ĐỌC VUI VÀ SUY NGHĨ

Cổ vũ lòng yêu thích các trò chơi hữu ích cho sự luyện tập trí óc trong cộng đồng người Việt

BND183 – Về vấn đề Trí Thức


Tác giả:    Đỉnh Sơn Trà (Danlambao)


– Thời buổi này mỗi lần lên mạng (Internet) tìm một thông tin gì đó thì khó mà tránh được những danh từ như: Giáo Sư, Tiến Sĩ, Nhân Sĩ, Trí Thức v.v… Điều này cũng đã từng làm cho tôi có cảm tưởng như là thành phần Trí Thức ở Việt Nam ngày nay thật quá nhiều. Và cũng chính điều này đã khiến tôi đi đến cái thắc mắc: “Trí Thức nghĩa là gì?”

Có phải “có học” là Trí Thức?

Một Giáo sư, một Tiến sĩ, một Bác sĩ, một Kỹ sư v.v… lẽ nào không phải là Trí Thức?

Thắc mắc vẫn hoàn thắc mắc.

Lên mạng tìm cái định nghĩa về Trí Thức nhưng không thể tìm thấy, mà chỉ là những bài viết lý giải Trí Thức là gì.

Cũng đã có lần tôi đọc đâu đó có một vị Giáo sư ở Việt Nam nói rằng:

“Trí Thức là những người làm việc bằng trí óc.”

Nếu là như vậy thì có thể kết luận một cách dễ dàng rằng những ai làm những công việc thuộc về lao tâm (ngược lại với lao lực) thì đều là Trí Thức cả?

Thắc mắc vẫn còn đó.

Trong tiếng Anh có hai chữ (intellectual và intelligentsia) mà theo tự điển của Google (dịch ra tiếng Việt) đều có dính đến một cái nghĩa chung là nói về Trí Thức. Chữ intellectual nghĩa là người trí thức, còn intelligentsia được dùng để gọi chung cho giới trí thức. Nhưng ngay trong tự điển tiếng Anh thì có thể tìm thấy nghĩa rõ hơn:

1 – Chữ intellectual có thể được dùng để chỉ một người có chuyên môn trong công việc thuộc về lao tâm, chẳng hạn như là một văn sĩ hoặc một nhà giáo. (a person professionally engaged in mental labor, as a writer or teacher); và cũng để chỉ một người tràn đầy trí tuệ (a person possessing a highly developed intellect); người xét đoán sự vật dựa vào những tiến trình nhân-quả chứ không dựa vào cảm tính hoặc cảm xúc (a person who relies on intellect rather than on emotions or feelings).

2 – Chữ Intelligentsia có nghĩa là những người có học thức hoặc trí tuệ trong một xã hội hay một cộng đồng nào đó (the well-educated or intellectual people in a society or community); cũng có nghĩa là những trí thức được xem như là một nhóm hoặc một giai tầng trong xã hội, nhất là những thành phần ưu tú về một lĩnh vực nào đó như văn hóa, xã hội hoặc chính trị (intellectuals considered as a group or class, especially as a cultural, social, or political elite).

Như vậy, dù gì đi nữa, dù chưa hiểu chính xác (vì chưa có) cái định nghĩa của Trí Thức là như thế nào, nhưng qua đó cũng đã có được đôi chút khái niệm về Trí Thức là gì.

Và trong xã hội Việt Nam hiện vẫn đang có nhiều thành phần được gọi là Trí Thức – thành phần của những con người mà ít ra là phải có học. Cho nên, việc coi một người Kỹ sư, Bác sĩ, Giáo sư hoặc Tiến sĩ v.v… là một Trí Thức, hoặc thuộc thành phần Trí Thức, thì chẳng lấy gì để cho là sai. Nhưng một Kỹ sư, Bác sĩ, hoặc Giáo sư hoặc Tiến sĩ có phải là một Trí Thức hay không thì đó lại là vấn đề khác.

Hãy thử xem trường hợp của một vị Giáo Sư tên là Trần Huy Liệu. Tôi có thể gọi vị Giáo sư này là người Cha đẻ của vị anh hùng thiếu niên Lê Văn Tám, một thiếu niên đã “tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy và xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.”

Từ vấn đề cố ý bịa ra một câu chuyện mà yếu tố bịa đặt lại không qua mặt được ngay cả trẻ em như thế, cho đến cái cốt ý của câu chuyện là nhằm giáo dục trẻ em trên khắp đất nước lao vào con đường bạo lực bằng chính cả thân mạng của mình, nếu ai đó gọi vị Giáo sư này là một Trí Thức thì tôi thấy thật là oan cho thành phần Trí Thức thật sự của Việt Nam quá.

Câu hỏi vẫn Trí Thức là gì?

Trong khả năng suy đoán của tôi thì Trí Thức có thể do sự kết hợp của Trí và Thức mà thành. Trong đó:

Trí là khả năng phân biệt, phán đoán và kết luận một sự việc hay hiện tượng.

Thức, hay còn gọi là Nhận Thức, là khả năng nhận biết của các giác quan trước mọi hiện tượng.

Ví dụ như khi mình nhìn thấy và biết một đóa hoa trước mặt thì mình đã có cả Trí lẫn Thức. Rồi nếu nhắm mắt lại thì cái Thức (Thức thấy) không còn nữa, cho nên mình chỉ còn Trí (vẫn biết trước mặt mình có đóa hoa) mà không thấy được hoa nữa. Một người mất Trí có thể nhìn thấy hoặc nghe tất cả nhờ có Thức (Thức thấy, Thức nghe) nhưng không biết hoặc không phân biệt được gì.

Con người khi ngủ, tất cả các giác quan tạm thời “đóng cửa”, tất cả các Thức vì vậy mà không có điều kiện để phát sinh. Cho nên, trong một chừng mực nào đó, theo tôi nghĩ, cũng hợp lý khi dùng cụm từ ‘Trí Ngủ’ để làm cái phản nghĩa cho Trí Thức và nó cũng góp phần để hiểu Trí Thức dễ dàng hơn.

Từ đó có thể suy ra rằng một Trí Thức ít ra cũng phải thuộc thành phần tinh anh hoặc ưu tú về mặt trí tuệ trong xã hội. Và cũng cần phải biết rằng “trí tuệ không bao giờ song hành với bất kỳ một hành vi hoặc tư tưởng bất thiện nào.”

Sự thật là sai mà mình nhìn thấy đúng thì đâu thể là Trí!

Người ta đã nhìn thấy mà mình chưa thấy thì đâu thể gọi là Thức được!

Vui sướng hạnh phúc trên sự tổn thương hoặc đau khổ của người khác thì đâu thể nói đó một kết quả của Trí Tuệ, cho nên không thể gọi đó là một Trí Thức được!

Mà ông Trần Huy Liệu là ai?

Là một Giáo sư, từng là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Đông Đức, Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam v.v…

Không cần đặt vấn đề là ông Giáo sư Trần Huy Liệu có thực tài hay không. Điều đó không cần thiết. Mà qua sự việc này thực tế đã cho thấy rằng: ngay trong nhiệm vụ và công việc của một chức danh Giáo sư …………….. vẫn có cả những công việc không tưởng được những mức độ bịa đặt, dối trá và dã man của nó. Huống thay gi ở tất cả mọi lĩnh vực khác!

—————

Góp ý của TTH

Tác giả Đỉnh Sơn Trà bộ “giỡn ngộ” sao khi bàn về người trí thức mà đề nghị ra trí thứctrí ngủ. Kỳ thực đây cũng là từ gốc Hán, có thể tạm phân tích sau:

trí: Khôn, hiểu biết sự lí. Trái với ngu 愚
hiền: Có đức hạnh. Như: hiền trí 賢智 (sage: người đức hạnh và tài năng).
hung: Ác độc. Như: hung trí 凶智 (devil: kẻ xảo quyệt và ác độc)
Còn:
tri (= trí: trùng âm và dị nghĩa với trí 智): Học vấn.
thức: Sự hiểu biết, kiến văn, kiến giải. Như: kiến thức 見識, tri thức 知識.

Do đó, tri thức hay trí thức là đồng nghĩa; người ta quen gọi người trí thức hơn là người tri thức cốt chỉ cho người có học, có khả năng lý giải các sự vật hiện tượng, chứ chưa xác đinh người này về mặt đạo đức là chánh hay tà, chân hay ngụy (= thật hay giả).

Khi người trí thức có đức hạnh thì có thể gọi là người (bậc) hiền trí; ngược lai đó là kẻ hung trí, ví dụ như kỹ sư Pol Pot của Campuchia hay bác sĩ Bashar Hafez al-Assad (tổng thống Syria) …, và kẻ ngụy trí như nhà khoa học Lưxenkô/ Lưsenko/Lysenko (Лысенко Трофим .. thời Liên Xô hay nhà khoa học nổi tiếng thế giới về nhân bản Hwang Woo-suk của Nam Hàn về vụ tế bào gốc mới đây.

Trong đạo Phật từ Thức 識 knowledge, perception (trong Thức Uẩn 識蘊 hay Duy Thức Tông 唯識宗) dùng chỉ sự hiểu biết tương đối theo giác quan (kể cả khi có các dung cụ hổ trợ giác quan) nên cần cảnh giác vì dễ nhầm lẫn, để không cố chấp cực đoan mà dễ gây ra tai hại và đau khổ. Trí 智 wisdom (còn gọi là tuệ = huệ 慧 hay trí tuệ 智慧) dùng chỉ cho nhận thức chân thật về tương đối tính của Thức, sự nhận thức này thường còn phải hoàn hảo hơn về suy lý (qua học hỏi: văn + tư) và trực giác (qua thiền định: tu).

TTH
Thái Trọng Huy

 
%d bloggers like this: