ĐỌC VUI VÀ SUY NGHĨ

Cổ vũ lòng yêu thích các trò chơi hữu ích cho sự luyện tập trí óc trong cộng đồng người Việt

Đôi lời về Ô Chữ VN

(Trích trong sách “Ô CHỮ VIỆT NAM” của Ts Hồ văn Hoà)

Ô CHỮ là một mạng ô vuông (hay chữ nhật) nhỏ tạo thành bởi nhiều đường thẳng ngang và dọc với nhiều ô được tô đen. Giải Ô Chữ là điền vào những ô trống theo chiều ngang hay dọc, những từ (gồm một hay nhiều chữ) thoả mãn những điều kiện nào đó. Các từ được ngăn cách bằng những ô đen.

Trò chơi Ô Chữ đem lại lợi ích về nhiều phưong diện như:

Giúp cho trí óc được linh hoạt, nhạy bén nhờ có dịp hoạt động thường xuyên. Điểm nầy đặc bìệt quan trọng đối với những người lớn tuổi, trí óc thường bị suy thoái, nhẹ thì hay quên trước quên sau, nặng thì lú lẩn hay mất trí nhớ.

Cùng với SUDOKU, Ô CHỮ là một trong những trò chơi căn bản trong mọi phương pháp huấn luyện trí óc.

Giúp nhớ lại những từ đã học, đã biết từ xưa nhưng giờ chỉ còn trong tiềm thức vì lâu ngày không được sử dụng.

Giúp học hỏi thêm những từ mới, hay những từ cũ mà mình chưa biết.

Tiếng Việt ngày nay đã chấp nhận thêm nhiều từ mới thông dụng từ tiếng Anh, thí dụ như OK, Offset, Video, Radio, Neon, Camera, …

Các từ thông dụng bằng tiếnh Anh, nhất là những tên tắt, về kỹ thuật, toán, vật lý, hoá hoc cũng thường được sử dụng trong xã hội Việt Nam, thí dụ như AC (Dòng điện xoay chiều – Alternating Current), DC (Dòng điện một chiều – Direct Current), IC (Mạch điện tích hợp – Integrated Circuits), các ký hiệu hoá học của các nguyên tố phổ thông như vàng (AU), bạc (AG), chì (PB), ….

Tên tắt tiếng Việt lẫn tiếng Anh của những từ, thường hợp thành bởi mẫu tự đầu cũa những chữ của từ, cũng rất thông dụng trong xã hội Việt Nam ngày nay. Những tên tắt nầy thỉnh thoảng cũng xuất hiện trong Ô Chữ. Thí dụ như VDV (Vận động viên), CDV (Cổ động viên), TNHH (Trách nhiệm hữu hạn), UN (United Nations – Liên hiệp quốc), ANU (Viện Đại học quốc gia Úc), CEO (Chief Executive Officer – Giám đốc điều hành), CIO (Chief Technical Officer – Giám đốc kỹ thuật), ….

Với những lợi ích thiết thực trên, không ngạc nhiên mà thấy Ô Chữ (bằng Anh ngữ) xuất hiện thường trực, từ dễ đến khó, trên phần lớn báo và tạp chí Anh ngữ trên khắp thế giới.

Nhưng buồn thay, hiếm thấy Ô Chữ Việt Nam xuất hiện thường trực trên báo hay tạp chí Việt ngữ nào!

Thử tìm hiểu lý do, vì:

(i) Việt ngữ đơn âm (ngoạt trừ những từ ngoại quốc đã được Việt hoá)

(ii) Tiếng Việt có nhiều dấu thanh điệu (Sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng)

(iii) Các mẫu tự Việt có nhiều biến dạng, thí dụ như a, ă, â; e, ê; o, ô, ơ; u, ư; d, đ

(iv) Việt ngữ có nhiều hạn chế, thí dụ như: không có chữ nào tận cùng bằng b, d, đ, k, l, q, r, s, v, x, nếu mẫu tự chót là g thì mẫu tự kế chót phải là n, nếu mẫu tự chót là h thì mẫu tự kế chót phải là c hoặc n, đi sau mẫu tự q chỉ có thể là u, đi sau mẫu tự p chỉ có thể là h, …

Phải đồng ý là Việt ngữ tạo nhiều khó khăn cho người làm lẫn người giải Ô Chữ. Nhưng, những khó khăn đó không phải là không thể vượt qua được! Pháp (mẫu tự biến dạng cũng nhiều lắm như a, à, é, è, ê, o, ô, u, û, c, ç, …), Đức, Hoa, Nhật, … cũng đều có những phương pháp để tạo sắc thái riêng cho Ô Chữ của nước họ.

Với thao thức đó trong lòng, tác giả đã cố gắng tìm một phương pháp để tạo cho Ô Chữ Việt Nam một sắc thái riêng, để vừa sánh vai cùng thế giới, vừa tạo được dễ dàng cho người làm cũng như người giải Ô chữ. Rất mong quyển sách nầy sẽ phát động được một phong trào giới thiệu thường trực Ô Chữ Việt Nam trên các báo, các tạp chí Việt ngữ trong nước cũng như trên toàn thế giới.

Mong thay!
Thuận Hoà

 
%d bloggers like this: