ĐỌC VUI VÀ SUY NGHĨ

Cổ vũ lòng yêu thích các trò chơi hữu ích cho sự luyện tập trí óc trong cộng đồng người Việt

VHV03 – Vai trò của học sinh trong việc duy trì tiếng Việt tại hải ngoại – Yếu tố thái độ và động lực

Duy trì tiếng Việt và văn hóa Việt

Nguồn: Tập san ĐN & CL số 6 Năm 2012

Nguyễn Văn Bon, PhD


Bài nghiên cứu nầy tiếp theo bài «Vai trò của gia đình trong việc duy trì tiếng Việt tại hải ngoại » đăng trong tập san 4 năm 2010 và « Vai trò của giáo viên trong việc duy trì tiếng Việt tại hải ngoại » đăng trong Tập san 5 Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long, 2011. Chúng tôi có xử dụng lại vài số liệu.

I. Dẫn nhập

Văn hóa và tiếng nói của một dân tộc là nhân tố quyết định sự tồn tại của dân tộc đó! Trải qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc và cả trăm năm dưới chế độ thực dân Pháp, nhưng tiếng nói và văn hóa của dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn tồn tại và phát triển. Do đó, duy trì tiếng Việt và văn hóa Việt là nhiệm vụ của tất cả người dân Việt, không riêng cho người Việt tại nước ngoài, mà còn cho cả người Việt trong nước. Nhưng vấn đề cấp bách hiện nay là việc duy trì tiếng Việt tại hải ngoại. Tiếng Việt là ngôn ngữ của hơn 80 triệu người Việt sinh sống trong nước, và gần 3 triệu người Việt sống tại nước ngoài.

Một thực trạng đáng quan ngại là việc phát hành các sách báo Việt ngữ tại hải ngoại đã giảm sút vì thiếu sự ủng hộ của các độc giả người Việt (1). Có nhiều lý do để giải thích hiện tượng nầy, nhưng một trong số lý do là số người hiểu ngôn ngữ Việt và gắn bó với văn hóa Việt đã giảm dần vì già yếu và bịnh tật. Với thế hệ trẻ, vì trở ngại ngôn ngữ nên không thiết tha lắm với việc tìm hiểu ngôn ngữ Việt và văn hóa Việt. Nếu thế hệ trẻ không học tiếng Việt, chắc chắn nền văn hóa Việt Nam sẽ bị mai một.

Các quốc gia có chính sách đa văn hóa như Úc, Gia nã đại…hay có nhiều sắc tộc như Anh, Pháp, Mỹ…đều công nhận ngôn ngữ sắc tộc là vốn liếng quí báu của quốc gia đó (2)

Riêng tại nước Úc, từ thập niên 1980, tiếng Việt là một trong 14 ngôn ngữ sắc tộc được chính sách ngôn ngữ quốc gia công nhận. (The Australian Language and Literacy Policy: White Paper, 1991a) và được giảng dạy tại một số trường chính mạch như là ngôn ngữ không phải tiếng Anh (Languages Other Than English: LOTE). Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu học tiếng mẹ đẻ của các sắc tộc, bộ giáo dục tài trợ cho các tổ chức cộng đồng thành lập các trường ngôn ngữ cộng đồng (gọi là trường sắc tộc) hoạt động vào các ngày cuối tuần.

Thực tế cho thấy duy trì tiếng Việt và văn hóa Việt tại nước ngoài là một việc không đơn giản. Đa số học sinh Việt Nam đang học bậc tiểu học tại nước Úc đều được sanh và lớn lên tại Úc. Trong trường học, ngôn ngữ chính là Anh ngữ, Việt ngữ cũng như các ngôn ngữ khác được coi như là ngôn ngữ thứ hai (second language). Mỗi tuần, các học sinh chỉ được học tiếng Việt từ 2 – 2giờ 30 phút. Mặc dù các giáo viên phụ trách giảng dạy có đủ khả năng và kiến thức, nhưng thời gian và điều kiện học tập không cho phép các giáo viên đạt được kết quả giảng dạy theo ý muốn.
Làm cách nào giúp cho các học sinh phát triển khả năng tiếng Việt một cách hữu hiệu song song với việc học tiếng Anh, đó là mối quan tâm của các bậc phụ huynh và các nhà giáo dục. Rất khó có câu trả lời chính xác, nhưng chúng ta thử tìm những yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếng Việt của học sinh.

Trong một đề án nghiên cứu về vấn đề trên, 128 phụ huynh học sinh có con em đang học tiếng Việt tại các trường tiểu học tại New South Wales (Australia), 20 giáo viên dạy tiếng Việt tại các trường công và trường ngôn ngữ cộng đồng được phỏng vấn, và 128 học sinh từ lớp 3 đến lớp 6 tham gia thi trắc nghiệm khả năng tiếng Việt (Nguyen,VB, 2002). Kết quả nghiên cứu cho thấy ba yếu tố sau đây ảnh hưởng đến sự tiến bộ trong việc học tiếng Việt của học sinh: yếu tố gia đình (thí dụ: khả năng tiếng Việt của phụ huynh, thái độ của phụ huynh đối với việc cho con em học tiếng Việt, việc tham gia của phụ huynh vào các sinh hoạt học đường nơi con em đang theo học), yếu tố học đường (phương pháp giảng dạy và năng lực của giáo viên), và sau cùng là động lực và thái độ của học sinh đối với việc học tiếng Việt.

image002

Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi chỉ đề cập: động lực và thái độ của học sinh đối với việc học tiếng Việt hay là vai trò của học sinh trong việc duy trì tiếng Việt tại hải ngoại

Trước khi nghiên cứu ảnh hưởng của động lực và thái độ của học sinh đối với việc học tiếng Việt, chúng ta thử xem qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của động lực và thái độ của học sinh đối với việc học một ngôn ngữ.

II. Những ý kiến liên quan

Tại sao cùng học một ngôn ngữ mà có một số người học thành công hơn một số người khác? Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng câu trả lời có thể nằm ở thái độ và động lực. Thái độ và động lực đóng vai trò quyết định nên hay không nên tiếp tục học một ngôn ngữ. Thái độ và động lực khiến cho học viên tìm kiếm các cơ hội để học một ngôn ngữ. ” Động lực là yếu tố quan trọng giúp cho học sinh học một ngôn ngữ thành công. Yếu tố quan trọng của việc giảng dạy có hiệu quả chính là khả năng của người giáo viên tạo điều kiện để giúp học sinh có động lực trong việc học, đặc biệt trong trường hợp học sinh vốn đã không quan tâm đến học tập “(McInerney, 2000: 1).

Một số nghiên cứu về động lực trong việc học ngôn ngữ thứ hai (Second language: L2) đều tập trung vào hai yếu tố: nhu cầu giao tiếp của học viên, và thái độ của họ đối với cộng đồng của ngôn ngữ thứ hai đó. Nếu người học nhận thức một ngôn ngữ thứ hai cần thiết cho việc giao tiếp trong mọi hoàn cảnh xã hội, họ sẽ có động lực để học ngôn ngữ đó. Nếu học viên có thái độ thuận lợi đối với những người nói ngôn ngữ thứ hai (L2) sẽ học một ngôn ngữ thứ hai để giao tiếp với người nói ngôn ngữ thứ hai (Lightbown và Spada, 1993). Ngoài ra, họ có thể muốn học một ngôn ngữ thứ hai vì lý do nghề nghiệp chẳng hạn như để có được một công việc tốt hơn, hay đạt kết quả một kỳ thi (Cook, 1991).

Nhằm tìm hiểu thái độ và động lực ảnh hưởng đến việc học ngôn ngữ của các học sinh sắc tộc , một số nhà nghiên cứu đã tập trung vào các thái độ và động lực để duy trì tiếng mẹ đẻ (Mother tongue) trong khi những người khác đã tập trung vào thái độ và động lực trong việc học ngôn ngữ thứ hai (Second language).

1. Thái độ và động lực để duy trì tiếng mẹ đẻ của học sinh di dân

Thái độ tích cực của học sinh và động lực đóng vai trò chủ yếu trong việc học tiếng mẹ đẻ. Taft và Cahill (1989) tiến hành một nghiên cứu về việc duy trì tiếng Arabic- Lebanese của các học sinh từ 10 đến 11 tuổi của cộng đồng di dân Lebanon ở Melbourne (Australia). Học sinh được hỏi “Em có thích nói tiếng Lebanese không? Tại sao?” Trong số 72% trẻ em Lebanon thích nói Lebanese, 41% trả lời “để giao tiếp với cha mẹ”, 13% trả lời “để tìm hiểu tiếng Lebanese”, trong khi 18% các em trả lời “vì nó là ngôn ngữ của tôi”. Trẻ em cũng được yêu cầu tự đánh giá khả năng tiếng Lebanese. Kết quả cho thấy có sự tương quan tích cực giữa thái độ của trẻ em đối với tiếng Lebanese và khả năng tiếng Lebanese.

Căn cứ vào kết quả nầy, Taft và Cahill kết luận rằng thái độ tích cực đối với tiếng mẹ đẻ, liên hệ mật thiết với kết quả học tiếng mẹ đẻ của trẻ em.

Theo Debela (1994) thái độ tích cực với tiếng Việt là một trong những yếu tố nâng cao khả năng tiếng Việt của học sinh. Debela tiến hành nghiên cứu về ngôn ngữ, tìm hiểu thái độ đối với tiếng Việt, và sự hỗ trợ của phụ huynh Việt Nam ở một trường tiểu học ở vùng ngoại ô phía Tây của tiểu bang Adelaide (Australia). Trường có 110 học sinh Việt Nam học tiếng Việt như là tiếng mẹ đẻ, 13 học sinh (12%) được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu. Các giáo viên đánh giá trình độ tiếng Việt của số học sinh nầy; kết quả cho thấy các học sinh phát triển kỹ năng nói và sự hiểu biết tốt hơn so với kỹ năng đọc và viết. Kết quả cũng cho thấy khả năng tiếng Việt như sau: khả năng hiểu biết (61%), nói ( 85%),đọc ( 54%), và viết (53%). Trả lời các câu hỏi, các học sinh cho rằng tiếng Việt là “một ngôn ngữ đẹp”, họ nói tiếng Việt với cha mẹ và sử dụng tiếng Anh với bạn bè của họ. Theo kết quả nghiên cứu ” sử dụng tiếng Việt trong gia đình, thái độ tích cực với tiếng Việt, hỗ trợ của cha mẹ và đánh giá tích cực tiếng Việt là những yếu tố quan trọng giúp học sinh trong việc học tiếng Việt tốt hơn” (Debela, 1994: 63).

2. Thái độ và động lực để học ngôn ngữ thứ hai (Second language)

Theo một số nghiên cứu về việc học ngôn ngữ thứ hai, thái độ và động lực có ảnh hưởng đáng kể đến sự thành công hay thất bại của học sinh trong việc học một ngôn ngữ thứ hai (L2). Thái độ và động lực ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục học ngôn ngữ thứ hai hay không? (Lightbown và Spada, 1993: 40). Theo một số nhà nghiên cứu, có hai loại động lực phản ảnh việc học ngôn ngữ thứ hai: Động lực hội nhập và động lực công cụ.

Đối với loại động lực hội nhập, các học sinh mong muốn học ngôn ngữ để hội nhập vào công đồng nói ngôn ngữ đó. (Baldauf và Lawrence,1990: 225 ; Gardner, 1988; Burstall, 1978: 2; Djite,1994: 15;Gardner và Lambert,1972). Với động lực công cụ, các học sinh học ngôn ngữ thứ hai (L2) vì một lý do nghề nghiệp hoặc lý do thực tế khác (Hamers và Blanc, 1989; Gardner,1985; Krashen,1981; Gardner, 1985:56)

Cả hai động lực hội nhập và động lực công cụ đều quan trọng.. Một học viên có thể học một ngôn ngữ thứ hai do một hoặc cả hai động lực (Cook, 1991).

Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy thái độ tích cực và động lực có liên quan đến sự thành công trong việc duy trì tiếng mẹ đẻ và trong việc học ngôn ngữ thứ hai.

III. Kết quả nghiên cứu về động lực và thái độ của học sinh đối với việc học
tiếng Việt

Để đánh giá sự tiến bộ về khả năng tiếng Việt của học sinh, 2 lần trắc nghiệm được thực hiện cách nhau trong vòng 10 tháng. Số học sinh tham gia trắc nghiệm lần 1 và lần 2 không thay đổi, và dùng một bài trắc nghiệm cho 2 lần. Bảng đánh giá khả năng nói và viết /đọc được xếp thành bốn trình độ: Rất giỏi, giỏi, khá, kém.
Một trăm hai mươi tám (128) học sinh tham gia làm bài trắc nghiệm và trả lời bảng tham khảo (survey). Bảng tham khảo gồm: Nói tiếng Việt thường xuyên tại trường, tại nhà, bên ngoài và lý do học tiếng Việt.

1. Kết quả trắc nghiệm khả năng tiếng Việt:

* Khả năng nói tiếng Việt của học sinh
(BASIC SKILLS TESTS: Children’s competence in spoken Vietnamese) (N=128)

image004

Đa số học sinh được đánh giá là giỏi và rất giỏi khả năng nói tiếng Việt.Con số gia tăng 41.4% trong 2 lần trắc nghiệm

 

* Khả năng viết tiếng Việt của học sinh
(BASIC SKILLS TESTS: Children’s competence in written Vietnamese) (N=128)

image006

Đa số học sinh được đánh giá là giỏi và rất giỏi khả năng viết tiếng Việt. Con số gia tăng 28.12%% trong 2 lần trắc-nghiệm

 

2. Thái độ của học sinh và động lực thúc đẩy học sinh học tiếng Việt

Để tìm hiểu thái độ và động lực nào ảnh hưởng đến khả năng tiếng Việt của học sinh, các học sinh được hỏi về việc xử dụng tiếng Việt tại nhà, tại trường học, bên ngoài gia đình và trường học , và lý do học tiếng Việt. Như đã trình bày trên, các học sinh tham dự 2 lần trắc nghiệm: trắc nghiệm 1 và trắc nghiệm 2 (the first Basic Skills Test and the second Basic Skills Test). Kết quả và thái độ của học sinh trong việc học tiếng Việt được trình bày như sau:

2.1. Học sinh xử dụng tiếng Việt tại nhà, trong trường, bên ngoài gia đình và trường học. N=128

image008

•  Học sinh xử dụng tiếng Việt trong gia đình: Thường và Rất thường = 67.2%

•  Học sinh xử dụng tiếng Việt tại trường học: Thường = 41.4%

•  Học sinh xử dụng tiếng Việt ngoài trường học và gia đình = Thường và Rất thường = 67.2%

Theo kết quả nghiên cứu:

*  Đa số học sinh “Thường” và “Rất thường”xử dụng tiếng Việt tại nhà.

*  Số tương đối học sinh “thường” xử dụng tiếng Việt tại trường.

*  Đa số học sinh “Thường” và “Rất thường” xử dụng tiếng Việt ngoài nhà và trường học.

2.2. Lý do học tiếng Việt

Các câu trả lời của học sinh về lý do học tiếng Việt xếp theo Liker Scale, từ mức độ “Hoàn toàn không đồng ý” đến “Hoàn toàn đồng ý”

Lý do học tiếng Việt (N=128)

image010

 

•  Lý do học tiếng Việt: Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ (mother tongue): Đồng ý và Hoàn toàn đồng ý: 54.7%.

•  Nên học tiếng Việt từ bậc Tiểu học, vì nó giúp tiếp tục học tiếng Việt bậc Trung học và cao hơn: 85.2%

•  Kết quả của 2 lần trắc nghiệm cho thấy khả năng tiếng Việt của học sinh có tiến bộ.

•  Đa số học sinh có thái độ và động lực tích cực trong việc học tiếng Việt.

IV. Nhận xét về vai trò của học sinh trong việc học tiếng Việt

Cuộc nghiên cứu nhằm tìm ảnh hưởng của động lực và thái độ của học sinh đối với việc học tiếng Việt để trả lời câu hỏi tại sao một số học sinh học tiếng Việt có kết quả tốt, trong lúc có những học sinh khác không đạt được kết quả như mong muốn của phụ huynh và nhà trường.

Nói cách khác, thái độ và động lực đối với việc học tiếng Việt liên quan đến hiệu quả của việc học tiếng Việt như thế nào? Có hai loại thái độ.

Thứ nhứt, thái độ tích cực của học sinh trong việc xử dụng tiếng Việt trong gia đình và tại trường học. Thứ hai, thái độ tiêu cực của học sinh đối với việc xử dụng tiếng Việt trong gia đình và tại trường học (thí dụ: học sinh có thái độ tích cực trong việc xử dụng tiếng Anh tại nhà và tại trường).

image012
Học sinh trường Việt Ngữ tham gia Đố Vui Để Học, 2011
(Nguồn: Liên Trường Việt Ngữ NSW, 2011)

1. Thái độ của học sinh xử dụng tiếng Việt trong gia đình và tại trường học

Việc xử dụng tiếng Việt trong gia đình và tại trường học của học sinh có liên quan đến khả năng nói và viết tiếng Việt. Đa sô học sinh (67.2%) “thường” và “rất thường” xử dụng tiếng Việt trong gia đình, và 41.4% thường xử dụng tiếng Việt tại trường học.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng tiếng Việt của những học sinh có tiến bộ do có thái độ tích cực đối với việc xử dụng tiếng Việt trong gia đình và tại trường học. Kết quả nầy phù hợp với quan điểm của những nhà giáo dục và nhà nghiên cứu (Debela,1994; Lightbown and Spada, 1993; Gardner,1985; Gibbons, 1992).
Theo những nhà nghiên cứu, thái độ tích cực và đông lực là yếu tố quan trọng nâng cao khả năng học ngôn ngữ của học sinh.

2. Thái độ của học sinh xử dụng tiếng Việt ngoài gia đình và trường học

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy việc xử dụng tiếng Việt bên ngoài gia đình và trường học góp phần nâng cao trình độ tiếng Việt của học sinh. Đa số học sinh (67.2%) “thường” và “rất thường” xử dụng tiếng Việt bên ngoài gia đình và trường học.

Theo kết quả nghiên cứu, học sinh xử dụng tiếng Việt để giao tiếp với các thành viên nói tiếng Việt trong cộng đồng, là dịp thực hành ngôn ngữ đã học trong trường, và chính những thành viên trong cộng đồng nói tiếng Việt là nguồn “ tài liệu sống” rất hữu ích cho học sinh.. Mathews & Fehring (1987:21) cho rằng “môi trường xã hội góp phần quan trọng cho việc học và cho thái độ cũng như năng giao tiếp và hợp tác của học viên”. Nêu học viên có thái độ tích cực đối với những người nói ngôn ngữ mà mình muốn học, sẽ tìm đến những người đang nói ngôn ngữ đó. Càng tiếp xúc nhiều với những người nói ngôn ngữ đó, thì năng khiếu ngôn ngữ càng phát triển (Lightbown & Spada, 1993).
Thật vậy, học một ngôn ngữ thứ hai (second language) trong bối cảnh tự nhiên (natural context) sẽ có hiệu quả hơn học ngôn ngữ đó trong lớp học.

Đối với các học sinh bậc tiểu học, học ngôn ngữ trong bối cảnh tự nhiên rất khó thực hiện. Cần phân biệt hai loại năng khiếu xử dụng ngôn ngữ: ngôn ngữ giao tiếp ngoài xã hội (social language) và ngôn ngữ trong lớp học (academic language skills). Học sinh có thể phát triển nhanh năng khiếu giao tiếp trong bối cảnh tự nhiên ngoài xã hội ( thí dụ: trên đường phố hay trong sân chơi trường học qua đàm thoại tự nhiên và giao tiếp với bạn bè). Ngoài ra, ngôn ngữ cần thiết cho việc học trong học đường (academic learning) học sinh phải trao dồi, phát triển và đạt tiêu chuẩn yêu cầu (Gibbons, 1992:226).

Mục tiêu căn bản giúp cho các học sinh thực tập ngôn ngữ giao tiếp ngay trong lớp học là cố gắng tạo bối cảnh càng gần bối cảnh tự nhiên càng tốt để các học sinh có dịp thực hành (Scarino et al, 1988:9).

3. Lý do học tiếng Việt

Thái độ và động lực là lý do chính giúp học sinh học tiếng Việt. Các học sinh cho biết chúng học tiếng Việt vì tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ (mother tongue), chúng nói tiếng mà cha mẹ nói (54.7%) và chúng tin tưởng rằng học tiếng Việt ở bậc tiểu học cần thiết để tiếp tục học tiếng Việt ở bậc trung học và cao hơn (85.2%). Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ và động lực hướng học sinh tìm cơ hội học một ngôn ngữ mà chúng lựa chọn. Một số nhà nghiên cứu cũng đồng quan điểm nầy. Debela (1994) nghiên cứu về thái đô đối với tiếng Việt của học sinh trong trường tiểu học miền Tây Adelaide (Australia) cho thấy những học sinh giỏi tiếng Việt là những học sinh nói tiếng Việt với cha mẹ trong gia đình. Sự duy trì ngôn ngữ sắc tộc của học sinh thuộc cộng đồng thiểu số chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội, nơi mà phụ huynh giữ vai trò quan trọng (Wei,1993:211).

Theo kinh nghiệm của cá nhân (người phụ trách đề án nghiên cứu nầy), một số phụ huynh Việt Nam phát biểu trong các cuộc phỏng vấn, thảo luận giữa giáo viên và phụ huynh tại trường cho biết môi trường gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển khả năng tiếng Việt của học sinh, vì chúng có dịp học hỏi, nói chuyện bằng tiếng Việt với cha mẹ và những người thân trong nhà.

Tóm lại, thái độ xử dụng tiếng Việt của học sinh được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển khả năng tiếng Việt của chúng. Thái độ tích cực đối với một ngôn ngữ, sẽ ảnh hưởng đến việc học ngôn ngữ đó. Trái lại, thái độ tiêu cực đối với việc học một ngôn ngữ sẽ làm cho việc phát triển kỷ năng ngôn ngữ đó gặp khó khăn.

V. Kết luận và đề nghị

Ngoài yếu tố gia đình (thí dụ: khả năng tiếng Việt của phụ huynh, thái độ của phụ huynh đối với việc cho con em học tiếng Việt, việc tham gia của phụ huynh vào các sinh hoạt học đường nơi con em đang theo học), và yếu tố học đường (phương pháp giảng dạy và năng lực của giáo viên), yếu tố động lực và thái độ của học sinh đối với việc học tiếng Việt ảnh hưởng đến sự tiến bộ trong việc học tiếng Việt của học sinh.

Kết quả nghiên cứu đã giải thích lý do tại sao một số học sinh học tiếng Việt rất có kết quả, trong lúc có một số học sinh không đạt được kết quả khi học tiếng Việt:

•  Thường xuyên xử dụng tiếng Việt trong gia đình và tại trường học.

•  Xử dụng tiếng Việt bên ngoài ( ngoài gia đình và trường học)

•  Lý do học tiếng Việt (tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, học tiếng Việt tại bậc tiểu học cần để tiếp tục học tiếng Việt ở
    bậc trung học và cao hơn).

Từ kết quả trên, đề nghị:

1. Học sinh cần được khuyến khích nói tiếng Việt với cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình. Thay vì ép buộc con em luôn luôn nói tiếng Việt tại nhà, cha mẹ có thể dùng tiếng Anh và tiếng Việt khi nói chuyện với chúng, từ từ hướng dẫn để cho chúng quen và thấy thích học tiếng Việt. Qua các sinh hoạt hàng ngày trong gia đình, cha mẹ sẽ khuyến khích để con em nói tiếng Việt với cha mẹ càng nhiều càng tốt.

2. Nếu phụ huynh ép buộc con em học tiếng Việt sẽ làm cho chúng có cảm tưởng là bị bắt buộc, nên khả năng tiếng Việt của chúng không cải tiến. Phụ huynh nên khuyến khích con em nói tiếng Việt tại nhà và trong lớp học. Giáo viên và phụ huynh cần khuyến khích và cho học sinh thấy việc học tiếng Việt giúp ích cho việc học tiếng Anh, không làm ngăn trở kỷ năng học tiếng Anh.

3. Đa số học sinh, sinh ra và lớn lên tại Úc nên chúng cần có cơ hội phát triển kỷ năng giao tiếp bằng tiếng Việt. Muc tiêu của chương trình dạy và học ngôn ngữ không phải tiếng Anh (LOTE) là phát triển kỷ năng ngôn ngữ. Muốn cho học sinh có khả năng giao tiếp, các hoạt động dùng ngôn ngữ bao gồm bốn kỷ năng căn bản sau đây: Kỷ năng tiếp thu (kỷ năng nghe hiểu và kỷ năng đọc hiểu), và kỷ năng diễn đạt (kỷ năng nói và kỷ năng viết).

Ở bậc tiểu học, khi các học sinh được luyện tập phát triển các kỷ năng ngôn ngữ, thì sau khi lên bậc trung học, học sinh sẽ dễ áp dụng những kỷ năng nầy trong những môn học khác nhau. Do đó, trong lớp học, giáo viên giữ vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh phát triển kỷ năng nói và nghe tiếng Việt.Tiếng Việt là phương tiện chính để dạy. Các bài học tiếng Việt luôn luôn có phần tập đàm thoại để phát triển kỷ năng nghe và nói của học sinh. Trong lớp học, giáo viên nên khuyến khích học sinh nói tiếng Việt trong các sinh hoạt.

4. Bối cảnh tự nhiên giúp học sinh thực hành giao tiếp ngôn ngữ. Cha mẹ nên cho con em cơ hội tiếp xúc với những người nói tiếng Việt lưu loát (thí dụ: cha mẹ nên thường xuyên cho con em cùng đi chợ mua đồ dùng; đây là dịp cho con em thực hành kỷ năng nghe và nói tiếng Việt). Con em muốn học tiếng Việt để nói chuyện với cha mẹ và những người nói tiếng Việt trong gia đình. Do đó, cha mẹ và những người trong gia đình nên “thường xuyên” xử dụng tiếng Việt, đọc báo và đọc truyện tiếng Việt cho con em và khuyến khích chúng đặt câu hỏi. Khuyến khích con em tập viết. Đọc các bài viết của chúng, do chúng tập viết tại nhà hay các bài viết đem từ trường về. Sau khi đọc nên có lời khen tích cực.

5. Động lực và thái độ là yếu tố quan trọng giúp cho học sinh học một ngôn ngữ nói chung hay Việt ngữ nói riêng được thành công. Phụ huynh và giáo viên cố gắng tạo điều kiện, hướng dẫn để giúp cho học sinh có thái độ tích cực trong việc học, đặc biệt trong trường hợp học sinh vốn đã không quan tâm đến học tập.

Ghi chú.

(1)  Theo tin tức trên báo chí và sự tìm hiểu cá nhân (chưa có số thống kê chính xác), nhiều nhà xuất bản và tác giả đã cho biết so với thập niên trước, có sự giảm sút trong việc phát hành các sách, báo Việt ngữ hoặc những tác phẩm nghệ thuật văn hóa khác.

(2)  Việc duy trì và phát triển tiếng mẹ đẻ của người di dân rất quan trọng, không những cho cộng đồng di dân mà còn cho chính những quốc gia đó.Về phương diện đối ngoại, ngôn ngữ sắc tộc có thể đóng góp tích cực vào lãnh vực chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, ngoại giao với các nước liên hệ hay với những nước xử dụng ngôn ngữ đó trên thế giới (Makin et al, 1995, Scarino et al, 1988: 1-2; CLyne, 1982). Về đối nội, ngôn ngữ sắc tộc giúp quốc gia ổn định, nó góp phần củng cố nền tảng gia đình, xã hội, phát triển mối liên hệ với những người cùng sắc tộc, truyền đạt kiến thức về văn hóa cổ truyền của nhóm sắc tộc cho thế hệ tiếp nối. Đối với học sinh di dân, ngôn ngữ sắc tộc còn là nền móng xây dựng kiến thức và kỹ năng quan trọng trong việc học. » (Nguyen,V.B. 2011 :17-18)

Tài liệu tham khảo

Baldauf, R. B., Jr., & Lawrence, H. (1990). Student characteristics and affective domain effects on LOTE retention rates.

Language and Education 4,225-248.

levels guidelines. Book 3. Canberra: Commonwealth of Australia.

Taft, R., & Bodi, M. (1980). A study of language competence and first language maintenance in bilingual children.

International Review of Applied Psychology, 29, 173-182.

Taft, R., & Cahill, D. (1989). Mother tongue maintenance in Lebanese immigrant families in Australia. Journal of Multilingual and Multicultural Development, 10 (2), 129-143.

Wei, L. (1993). Mother tongue maintenance in a Chinese community school in New Castle Upon Tyne: Developing a social network perspective. Language and Education, 7, 199-213.

 
%d bloggers like this: