ĐỌC VUI VÀ SUY NGHĨ

Cổ vũ lòng yêu thích các trò chơi hữu ích cho sự luyện tập trí óc trong cộng đồng người Việt

BND018 – Đọc lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư và ca dao tục ngữ

 Vài suy nghĩ về

 Tiếp chuyển những nét đặc sắc trong văn hóa
Việt Nam  sang các thế hệ trẻ tại hải ngoại

         TS. Nguyễn văn Bon

 

Những bài học luân lý đạo đức trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có giá trị sư phạm, góp phần giáo dục con người, nay vẫn còn giá trị (1).

 I. Dẫn nhập

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, hiện nay hàng triệu người Việt Nam đang định cư rải rác trên khắp thế giới. Trong cuộc sống họ phải trải qua bao nhiêu khó khăn, đặc biệt phải đối diện với những lối sống của xã hội mới mà họ nhận làm quê hương thứ hai. Một mặt phải đối đầu với miếng cơm manh áo để nuôi gia đình, một mặt phải buồn bã thất vọng chứng kiến những giá trị truyền thống dân tộc đang dần dần biến đổi. Mối quan tâm của các bậc cha mẹ đang sinh sống tại hải ngoại là làm thế nào giúp các con em mình giữ được những nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam.

Thực tế cho thấy các em Việt Nam đến nước ngoài khi còn nhỏ tuổi, và đa số được sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, tiếp xúc với nền văn hóa mới, nên những lối sống mà các em lĩnh hội được trong gia đình trong những năm đầu trước khi đến trường dần dần bị mai một đi, vì phần lớn thời gian sau đó các em được học văn hóa mới và thích nghi với nếp sống mới.

Không ai phủ nhận là nền văn hóa Tây Phương có những nét đặc sắc mà các em cần tiếp thu, nhưng văn hóa truyền thống Việt Nam cũng có những tinh hoa mà các em cần phải học và duy trì. Do đó vấn đề tiếp chuyển những nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam sang thế hệ trẻ tại hải ngoại là điều cần thiết, giúp các em hiểu và dung hòa những nét đặc sắc của văn hóa truyền thống nước nhà với nền văn hóa nơi quê hương thứ hai.

Trong phạm vi bài nầy, xin đưa ra vài suy nghĩ về văn hóa và duy trì văn hóa, đồng thời giới thiệu đến các thế hệ trẻ tại hải ngoại một số nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam được trình bày trong bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư và trong ca dao tục ngữ Việt Nam.

 II. Khái niệm về văn hóa và duy trì văn hóa

 Những nhà nghiên cứu chia văn hóa ra làm hai loại: văn hóa vật chất gồm các sản phẩm do con người tạo ra (đền đài, nhà cửa, đường xá…), và văn hóa phi vật chất gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, định chế xã hội, luật lệ, niềm tin, quy tắc luân lý làm nền tảng giá trị cho xã hội, gia đình. Có thể nói mọi sinh hoạt trên đời đều là văn hóa, và có xã hội là có văn hóa. Xã hội không tồn tại nếu không có văn hóa.

Khi nói đến văn hóa Việt Nam, người Việt tự hào là có một nền văn hóa đặc sắc, lâu đời, gắn liền với quá trình phát triển và đấu tranh của dân tộc. Theo ý kiến chung của các nhà văn hóa và các nhà sử học, từ trước thời kỳ Bắc Thuộc đến thế kỷ 20, nền văn hóa Việt Nam biến chuyển qua thời gian và không gian. Từ nền văn hóa cổ, trước năm 218 trước Tây Lịch (tr.T.L.), là nền văn hóa đặc thù, tiếp theo, duới ách đô hộ của Trung Hoa (từ 207 tr.T.L. – 939 sau T.L.) nền văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của ba luồng tư tưởng của ba tôn giáo lớn : Lão Giáo, Khổng Giáo và Phật Giáo. Bắt đầu thế kỷ 17, văn hóa Việt Nam chịu thêm ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo. Trên bước đường Nam Tiến, dựng nước và giữ nước,Việt Nam vừa chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, môi trường sinh sống, vừa đấu tranh với các nước láng giềng, nền văn hóa Việt Nam không thể tránh được những biến đổi tự nhiên. Trong quá trình phát triển của xã hội, do sự giao lưu, tiếp xúc với các dân tộc khác, dĩ nhiên có những nét văn hóa mất đi, nhưng cũng có những nét văn hóa thu nhập. Thật vậy, không có nền văn hóa nào đứng yên, không biến đổi.Nhưng  « sự phát triển văn hóa giống như sự trôi chảy của những dòng sông, trong khi hướng ra biển cả, nó vẫn gắn bó với cội nguồn của mình » (2)

Nhiều người vừa muốn bảo tồn nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, vừa muốn phát huy tinh hoa của nền văn hóa đó nhằm xây dựng một nền văn hóa mới. Nhưng bảo tồn và phát huy nền văn hóa như thế nào ?

Vì quá chú trọng đến yếu tố vật chất, dùng vật chất để đo giá trị văn hóa mà người ta quên nội dung thật sự của văn hóa. Những hình thức vật chất có thể bị hủy diệt qua thời gian năm tháng, nhưng giá trị văn hóa vẫn tồn tại (3). Văn hóa chỉ có thể được bảo tồn và phát huy ngay trong cách sống của mỗi con người trong xã hội. Bảo tồn văn hóa là bảo tồn cái tinh hoa cao đẹp của cách sống đã được gạn lọc, hoàn thiện để truyền đạt lại cho các thế hệ đi sau.

Những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam đã được đề cập đến trong các tác phẩm văn chương, ca dao tục ngữ, trong các sách giáo khoa. Cụ thể bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã  góp phần giới thiệu những tinh hoa của văn hóa dân tộc, đào luyện, un đúc bao nhiêu thế hệ thanh thiếu niên có tinh thần nhân nghĩa, đức độ, nhân hậu.

 III. Nội dung Quốc Văn Giáo Khoa Thư

Bô sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư của quí ông Trần trọng Kim, Đổ Thận, Nguyễn văn Ngọc và Đặng đình Phúc, gồm 4 cuốn (3 cuốn cho Lớp Đồng Ấu, Lớp Dự Bị, Sơ Đẳng và cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư), mỗi cuốn gồm trên dưới 100 bài, mỗi bài gồm khoảng 200 từ :

  • Quốc Văn Giáo Khoa Thư dành cho lớp Đồng Ấu (tương đương lớp 1).
  • Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị (tương đương lớp 2).
  • Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng (tương đương lớp 3).

Nội dung của các quyển Giáo Khoa Thư bao gồm :

Những bài học về Luân Lý : Nhắc đến tình gia tộc, nhớ ơn tổ tiên, lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, tình nghĩa bạn bè thân thuộc và đạo đức bản thân.

Gia đình và học đường : Gia đình và học đường là hai yếu tố liên quan mật thiết, ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của mỗi học sinh. Tình gia đình, tình yêu quê hương và lòng biết ơn thầy là nền tảng đạo lý dân tộc mà mỗi người không thể quên.

Đất nước và con người : Gợi lại hình ảnh thân thương, mặc dù nay không còn nữa, nhưng vẫn còn trong ký ức của mỗi người học trò Quốc Văn Giáo Khoa Thư.

 Nếu so sánh tuổi đời thì các em trong các lớp 1, 2, 3 hôm nay cũng không khác mấy với tuổi của các học sinh thời đó, tức thời Giáo Khoa Thư, nhưng khoảng thời gian trên sáu, bảy thập niên, vậy thì nội dung của bộ sách nầy có còn thích hợp cho các bạn trẻ hôm nay hay không ? Theo nhà văn Nam Sơn Trần văn Chi (4) « Nội dung Quốc Văn Giáo Khoa Thư vẫn có đôi phần thích hợp, và tinh thần Quốc Văn Giáo Khoa Thư là cái gì đẹp, góp phần làm cho các bạn ‘về nguồn’ và để ‘bảo tồn bản sắc dân tộc’».

Vấn đề bảo tồn bản sắc dân tộc, hay nói cách khác là bảo tồn tinh hoa của nền văn hóa dân tộc là mối ưu tư của các bậc phụ huynh và của nhiều người trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

IV. Tiếp chuyển những nét đặc sắc trong văn hóa Việt Nam sang các thế hệ trẻ ở hải ngoại.

Các thế hệ trẻ mong muốn những gì? Các thế hệ trẻ muốn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống mà vẫn thích ứng với điều kiện và môi trường mới. Nói cách khác, các bạn trẻ cần biết cái hay cái đẹp của nền văn hóa dân tộc, để trong cuộc sống hàng ngày các bạn thấy cái nét đặc sắc của văn hóa dân tộc không những cần thiết, mà còn góp phần làm phong phú cho nền văn hóa của xã hội mới nơi các bạn đang sống. Các bạn trẻ rất cần có kiến thức về lịch sử, văn hóa, văn học, phong tục tập quán…của dân tộc Việt Nam, nhưng cái tinh hoa, cái tinh thần của lịch sử, văn hóa, văn học, phong tục tập quán mới quan trọng.

Vấn đề quan trọng là những nét tinh hoa, đạo lý nào của nền văn hóa truyền thống Việt Nam cần được tiếp chuyển đến các bạn trẻ Việt Nam tại hải ngoại ? Đạo lý ở đây là đạo làm người, là dân tộc tính, làm nền tảng cho văn hóa dân tộc. Sau đây là vài nét tiêu biểu của đạo lý làm người được đề cập trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư và ca dao tục ngữ: Lòng hiếu thảo và tình đoàn kết trong gia đình, tình thương đối với đồng bào đồng loại, thiên chức của người phụ nữ Việt Nam, lòng chung thủy, tình yêu quê hương đất nước, biết ơn thầy và vai trò của tiếng Việt, tức chữ quốc ngữ.

Lòng hiếu thảo và tình đoàn kết trong gia đình

Nền văn hóa Việt Nam xây dựng trên nền tảng gia đình và nền văn minh truyền thống. Gia đình là nền tảng của xã hội, là trung tâm đời sống cá nhân, và là nhân tố của tương quan xã hội. Qua thời gian và ảnh hưởng của xã hội, cấu trúc gia đình đã biến đổi, từ đại gia đình, trên có ông bà, cha mẹ, dưới có con cháu cùng sống chung nhau, sang tiểu gia đình gồm cha mẹ và con cái, nhưng tinh thần và nền tảng vẫn được đề cao. Muốn bảo vệ nền văn hóa dân tộc, phải giữ gìn nền tảng gia đình trong đó có lối sống, sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình. Một trong những việc quan trọng là giữ gìn nguyên tắc luân lý trong gia đình như tôn kính ông bà, cha mẹ, lễ phép với người lớn tuổi và bà con thân thuộc, sống hòa thuận, thương yêu đùm bọc nhau (Chị ngã em nâng. Máu chảy ruột mềm).

Lòng hiếu thảo

 Nét đặc thù văn hóa trong sinh hoạt gia đình được đề cập sau đây là đức hiếu thảo. Theo nền đạo lý dân tộc Việt Nam, đức hiếu thảo luôn luôn được đề cao. Người có tài mà bất hiếu, coi như kém đạo đức, không được xã hội công nhận, không được coi là quân tử, bị liệt vào hàng tiểu nhân. Hạng người nầy, đối với cha mẹ là bậc sanh thành mà không coi trọng thì làm sao có tấm lòng thương nước thương dân.

Trong gia đình, làm con phải giữ trọn đạo hiếu. Đối với cha mẹ, bổn phận làm con phải luôn luôn kính phục, quí mến, vâng lời và giúp đỡ. Đức tính đó được thể hiện trong cử chỉ, lời nói và việc làm. Quốc Văn Giáo Khoa Thư nhắc lại những câu ca dao ca ngợi truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, khẳng định công lao to lớn của cha mẹ và nhắc nhở bổn phận làm con. Con cái phải nhớ ơn và kính yêu cha mẹ, đó là đạo lý làm người, đó là tình cảm in sâu trong tâm hồn người Việt Nam.

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Quốc Văn Giáo Khoa Thư dạy :« Khi cha mẹ già yếu, tất phải nương cậy vào con, vậy kẻ làm con phải nuôi nấng và đỡ-đần người cho trọn đạo. Cha mẹ càng ngày càng già yếu, thì ta lại càng phải trông nom, săn sóc bội phần. Không cứ giàu có, sang, hèn, bao giờ ta cũng phải lấy sự thành kính mà thờ phụng cha mẹ». Không thể viện dẫn lý do đang bận trăm muôn ngàn việc nên không đủ thời giờ và sức lực thăm nom và chăm sóc cha mẹ. Có người còn cho rằng, ở các nước tây phương, khi cha mẹ già yếu đã có nhân viên của viện dưỡng lão chăm sóc. Họ còn cho rằng cha mẹ già cần yên tĩnh, sự có mặt thường xuyên của con cháu làm phiền cha mẹ ông bà. Những người nầy quên rằng, đối với người già, chính sự cô đơn giày vò tinh thần chứ không phải sự đau yếu, nghèo khỗ. Thật đau lòng khi đọc câu :« Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày », hoặc « Một mẹ nuôi nổi mười con, mười con không nuôi nổi một mẹ ».

 Tình đoàn kết thương yêu trong gia đình

Tinh thần đoàn kết thương yêu nhau giữa anh chị em trong gia đình được xã hội đề cao. Có thể nói gia đình là một mô hình của xã hội và quốc gia, hay rộng ra là thế giới. Nếu ta không thương những người thân cùng chung cha mẹ, thì làm sao ta có tình thương trải ra cho mọi người khác. Người ta khó tin thiện ý của môt người nào đó bằng hành động hoặc bằng lời nói cho rằng mình có tấm lòng nhân ái, yêu thương những người cùng khổ trong xã hội, mà chính bản thân họ không có tình thương yêu đối với người trong gia đình. Quốc văn giáo khoa thư kể chuyện “Ông già với bốn người con”. Môt hôm người cha gọi bốn người con lại, đưa cho một bó đũa và bảo nếu ai bẻ gãy bó đủa sẽ được thưởng túi bạc. Mỗi người cố sức bẻ nhưng không bẻ được. Người cha bèn tháo bó đũa ra và bẻ gãy từng cây rất dễ dàng. Người cha dạy rằng: Muốn có sức mạnh thì phải đoàn kết nhau. Chuyện bó đũa nầy nhắc các con phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau mới đủ sức mạnh đối phó với khó khăn ngoài đời. Có rất nhiều câu ca dao chứa đựng lời khuyên chân thành:

“Anh em như thể tay chân,
Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần”
“Khôn ngoan đá đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

 Quốc văn giáo khoa thư dùng bài học “Khuyên hiếu đễ” nhắc nhở học sinh phải hiếu thảo với cha mẹ và nhường nhịn anh chị em trong gia đình:

 Cha sinh, mẹ dưỡng,
Đức cù-lao lấy lượng nào đong.
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.
Chữ đễ nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhương chị, lại nhường người trên.
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em

 Dưỡng = nuôi nấng.

Đức cù lao = công lao cha mẹ sinh thành nuôi dạy con cái.  Cửu tự cù lao trong tiếng Hán, tức là chín chữ: Sinh (sinh đẻ), cúc(nâng đỡ), phủ (vỗ về), xúc (cho bú), trưởng (nuôi cho lớn),dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục(chăm sóc, dạy bảo), phúc (bảo vệ).

Luân thường = đạo ăn ở với mọi người

Nền= thứ bậc

 Tình thương đối với đồng bào, đồng loại

Từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, người dân ViệtNamđã trải qua biết bao gian nan thử thách. Tổ tiên chúng ta đã đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn phức tạp, vừa khắc phục mọi trở lực khắc nghiệt của thiên nhiên để mở mang bờ cỏi giang san, vừa phải chiến đấu giữ nước, chống kẻ thù mọi phía, đặc biệt là thế lực hùng mạnh phương bắc. Để tồn tại và phát triển, tổ tiên chúng ta đã ý thức cần phải đoàn kết thật sự, cần phải nương tựa vào nhau và thương yêu nhau như những người con cùng một mẹ.

“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Tinh thần đoàn kết nầy tạo thành truyền thống lưu lại cho con cháu mai sau.Theo truyền thống của người Việt Nam, tình thương yêu không chỉ dành cho trong gia đình, mà mở rộng đến cả đồng bào và đồng loại. Một giá trị tốt đẹp của con người là lòng nhân đạo. Muốn sống cho đúng nghĩa, con người phải biết thương yêu lẫn nhau. Khi thấy người hoạn nạn, đau yếu phải giúp đỡ bằng tình thương yêu chân thành. Quốc văn giáo khoa thư mượn bài thơ trong gia huấn ca để dạy học sinh:

Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom,
Thấy người già yếu ốm mòn,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Trời nào phụ kẻ có nhân,
Người mà có đức, muôn phần vinh hoa
(Nguyễn Trải: Gia huấn ca)

Tình thương yêu giữa con người và con người là thước đo tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách của con người. Có nhiều câu ca dao tục ngữ ẩn chứa triết lý tình thương đã in sâu trong tâm khảm người ViệtNam:

“Lá rành đùm lá rách”
“Thương người như thể thương thân”
“ Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
 “Bầu ơi thương lấy bí cùng,
 uy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Thiên chức của người phụ nữ Việt Nam

 Dù ở ViệtNamhay ở nước ngoài, cha mẹ nào cũng đi làm vất vả, kiếm miếng cơm manh áo, dành dụm nuôi con, lo cho con từ vật chất đến tinh thần:

Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.
N
uôi con buôn bán tảo tần,
Chỉ mong con được nên thân với đời.

Bằng tình thương và đức tính kiên trì, người phụ nữ đóng vai trò tích cực trong việc vun bồi  và bảo tồn đời sống gia đình và đạo lý dân tộc. Các bài trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư như : ‘Tối ở nhà’, ‘Bữa cơm ngon’, và ‘Bà ru cháu’ nói lên vai trò của người phụ nữ trong gia đình, ngay từ tuổi còn con gái, đến khi làm vợ, làm mẹ rồi làm bà. Gia đình sum vầy buổi tối và bữa cơm ngon cho ta hình ảnh gia đình đoàn tụ, ấm cúng, trên thuận dưới hòa, là nét đẹp văn hóa của người Việt.

Trong bài ‘Bữa cơm ngon’ tác giả Quốc Văn Giáo Khoa Thư viết : Cơm đã chín. Mẹ và chị dọn ra để trên giường. Cả nhà ngồi ăn cơm. Cơm đỏ, canh rau, chẳng có gì là cao lương mỹ vị. Nhưng cơm sốt, canh nóng, bát đũa sạch sẽ, cả nhà ăn uống ngon miệng, no nê. Tác giả Quốc Văn Giáo Khoa Thư viết tiếp: Nhất là cha mẹ, con cái, trên thuận dưới hòa, một nhà đoàn tụ sum họp với nhau, thì dầu cơm rau cũng có vị lắm. Thật vậy, bữa cơm ngon phải là bữa cơm đoàn tụ, những người ngồi cùng mâm cùng bàn trên thuận dưới hòa, chớ không phải do thức ăn ngon. Thà rằng sống trong cảnh nghèo mà gia đình hòa thuận, thương yêu nhau còn hơn sống trong cảnh giàu sang mà gia đình bất hòa :

Thà rằng ăn bát cơm rau,
Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời.

Thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ Việt Nam không do sự ràng buộc khắt khe của lễ nghi phong kiến, mà nó là bản chất cao quí của người phụ nữ. Thương chồng nuôi con không màng đến gian lao khổ cực. Trong bài ‘Con cò mà đi ăn đêm’ nói lên hình ảnh bà mẹ Việt Nam, con cò là hiện thân người mẹ Việt Nam hy sinh cho con, vất vả đêm ngày :

Con cò mà đi ăn đêm,
Đ
ậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao !
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
…….

 Ngay cả khi gặp tai nạn cho dù có chết thì vẫn giữ tấm lòng trong sạch để bảo vệ thanh danh của gia đình :

Có xáo thí xáo nước trong,
Đ
ừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Hình ảnh bông sen được Quốc Văn Giáo Khoa Thư dùng để giáo dục học sinh tấm lòng trong sạch, còn được ví với đức tính thanh cao của người phụ nữ Việt Nam :

Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Lòng chung thủy- Giá trị hôn nhân

 Một đức tính cao đẹp khác trong gia đình cũng được coi là truyền thống, làm thước đo đạo đức của vợ chồng. Đó là lòng chung thủy. Lòng chung thủy được người dân Việt Namcoi như biểu tượng của đạo lý dân tộc. Quan niệm nhất phu nhất phụ là quan niệm truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nhiều câu ca dao và truyện cổ tích dân gian đề cao lòng chung thủy của người phụ nữ, một phẩm chất thanh cao phản ảnh nền đạo lý dân tộc (Thiếu phụ Nam Sương, Tích trầu cau, Hòn vọng phu…). Không có cảnh nào đẹp cho bằng cảnh “thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”. Cuộc sống có tình có nghĩa của vợ chồng được người đời gói trọn trong vần thơ dân dã sau đây:

 Rủ nhau xuống bể mò cua,
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng,
Ai ơi chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc ta đừng bỏ nhau.

Thật là thiết tha, thật là chân thành mà cũng thật cảm động. Dù cho vật đổi sao dời, vợ chồng đã cùng cam cộng khổ, mặc dù trong cuộc sống hàng ngày có lúc bất hòa, nhưng

Ai ơi chua ngọt đã từng, Non xanh nước bạc ta đừng bỏ nhau”.

Lòng chung thủy, đức tính cao quí của người phụ nữ không thiếu trong xã hội ViệtNam. Biết bao người vợ đã tiễn chồng ra đi chinh chiến hoặc giam thân trong chốn lao tù, mà vẫn giữ tấm lòng son sắt thủy chung, thay chồng lo dạy con thơ và phụng dưỡng cha mẹ chồng, không màng đến nhan sắc phai tàn theo năm tháng:

                      “ Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”
Hoặc            Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
                        Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai”
                                                 (Chinh phụ ngâm)

Sau biến cố 1975, còn hình ảnh nào cảm động hơn bằng hình ảnh những người vợ thân hình tiều tụy, tay xách nách mang những gói quà tình nghĩa, băng rừng lội suối đến tận các trại cải tạo ở mọi miền đất nước để thăm nuôi, an ủi chồng. Bút mực nào, ngôn từ nào có thể diễn tả hết những tấm lòng chung thủy của người phụ nữ ViệtNam!

………………

Đừng tưởng tôi quên!

          Miền Trung du mây trắng,
          Đồi tím hoa sim, chim hót nghẹn ngào,
          Hót điệu buồn nấc nghen tiễn đưa nhau,
          Người lao lý, người quay về hiu quạnh.
          Đừng tưởng tôi quên!
          Người vợ hiền lận đận,
          Thân yếu gầy lặn lôi đến thăm nhau,
          Tay xách nách mang
          Những gói quà tình nghĩa ngọt ngào,
          Đã chứ đựng cả tấm lòng chung thủy.
                          (Nguyễn văn Bon: Đừng tưởng tôi quên)

Tình yêu quê hương đất nước

 Tình yêu quê hương là tình cảm thâm thúy nhứt, cho dù sống ở nơi nào mỗi khi nhắc đến quê hương thì cảm thấy bồi hồi thương nhớ. Quốc Văn Giáo Khoa Thư nhắc đến câu chuyện người đị du lịch về nhà kể: “Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc trở lại chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỹ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được”.

Có phải đây là tình cảm chung của mọi người chúng ta? Quê hương! Mỗi người mô tả quê hương theo một hoàn cảnh, một tâm tư riêng, góp lại hình thành một quê hương. Tình cảm quê hương đất nước trở thành dân tộc tính, là tình cảm thiêng liêng. Chỗ quê hương đẹp hơn cả!

 Biết ơn thầy

          Muốn sang thì bắt cầu kiều,
          Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy.

Tinh thần quý trọng và biết ơn thầy đâu đâu cũng có, Đông cũng như Tây.  Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể lại chuyện bên Pháp. Ông Carnot làm quan to, nhân chuyến về thăm quê ghé qua trường cũ thăm thầy, ông đứng trước mặt thầy và lễ phép thưa: “Trò là Carnot đây, thầy còn nhớ con không?”, và ông khuyên bảo các học sinh trong lớp: “Ta bình sinh, nhất là ơn cha mẹ, sau ơn thầy ta, và nhờ thầy chịu khó dạy bảo, ta mới làm nên sự nghiệp ngày nay”.

Kho tàng văn học và dân gian Việt Namcũng có những tấm gương học trò nhớ ơn thầy.                                        

Chuyện về học trò có nghĩa với thầy tại ViệtNamcũng được Quốc Văn Giáo Khoa Thư nhắc đến. Ông Nguyễn đức Đạt, người Nghệ An, làm chức tuần phủ tỉnh Hưng Yên. Trong lúc nước có biến loạn, của cải trong kho mất hơn vạn quan tiền. Triều đình bắt ông phải bồi thường, nếu không sẽ bị trừng phạt. Rất may, từ trước ông đã có dạy nhiều học trò. Các môn sinh nghe thầy mắc nạn, liền bảo nhau góp đủ số tiền giúp thầy.

Trong truyện Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, Lục Vân Tiên đã thể hiện lòng tôn sư trọng đạo. Lục Vân Tiên xuống núi lâp công danh với đời, còn muốn báo đáp ơn thầy dạy dỗ:

 Chí lăm bắn nhạn ven mây,
 
Danh tôi đặng rạng tiếng thầy bay xa.
Làm trai trong cõi ngư
Trước là báo bổ sau là hiển vang.                                         

Hoặc trong ba ngày trọng đại đầu năm, trong dân gian có câu khuyên học trò phải biết ơn thầy dù đã khôn lớn và không còn theo học với thầy:

Mồng một nhà cha
Mồng hai nhà vợ
Mồng ba nhà thầy.

Vai trò của tiếng Việt (chữ quốc ngữ)

Bài ‘Đi học để làm gì?’ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư nói về học chữ quốc ngữ trong thời kỳ nước ta bị người Pháp cai trị. Tác giả Quốc Văn Giáo Khoa Thư  cho biết ích lợi của việc học chữ quốc ngữ, tức tiếng Việt.

Muốn gia đình ViệtNamlà tổ ấm, chắc chắn ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng. Tiếng Việt phải được các thành viên trong gia đình sử dụng. Ông bà cha mẹ con cái cùng nói tiếng mẹ đẻ thì dễ cảm thông nhau. Đặc biệt trong xã hội hiện nay (Úc,Mỹ,Canada, và một số nước khác), thế hệ trẻ đang được học ngôn ngữ chính là tiếng Anh, hoặc một thứ tiếng khác tiếng Việt. Vì tuổi đời cũng như hoàn cảnh, thế hệ ông bà, cha mẹ không thể tiếp thu ngôn ngữ mới, nên dùng tiếng Việt trong mọi sinh hoạt gia đình. Thế hệ trẻ cần được khuyến khích học thêm tiếng Việt để cảm thông với thế hệ ông bà, cha mẹ, cùng chia xẻ khích lệ khi gặp khó khăn, và khi cả ngay ngoài xã hội khi gặp người cùng nòi giống thì dễ chuyện trò, liên lạc nhau. Nếu thế hệ trẻ không học tiếng Việt, chắc chắn nền văn hóa ViệtNamsẽ bị mai một.

Nói đến cái hay của tiếng Việt, không thể nói hết trong một thời gian hạn chế. Xin kể ra vài thí dụ để các bạn trẻ thấy nét đặc sắc của tiếng mẹ đẻ.Trong tiếng Anh, xưng hô với người mà ta đang nói chuyện rất đơn giản, bất kể người đó là ai, là ông bà, cha mẹ hay địa vị của người trong xã hội: ngôi thứ hai số ít hoặc số nhiều thì dùng từ YOU. Còn trong tiếng Việt thì tùy trường hợp, tuổi tác, nam nữ, hoàn cảnh giao tiếp mà ngôi thứ hai được thay đổi cho phù hợp:

  • Cụ hay ông để gọi người rất già, hoặc người sanh ra ông bà, cha mẹ mình.
  • Ông, Chú Bác để gọi người đàn ông nhiều tuổi, không quen nhưng kính trọng.
  • Bà, Cô, Dì để gọi người đàn bà nhiều tuổi, không quen nhưng đáng kính.
  • Anh để gọi người đàn ông cùng cha mẹ nhưng lớn tuổi hơn, hay người đàn ông nhiều tuổi hơn, hoặc người yêu là nam (người con gái gọi người yêu là anh).
  • Em để gọi người trai hoặc gái cùng cha mẹ nhưng nhỏ tuổi hơn, hay người ngoài  nhưng nhỏ tuổi hơn, hoặc người yêu là nữ (người con trai gọi người yêu là em).

Trong gia đình, họ hàng thân thuộc, cũng phân biệt rõ ràng:

Tiếng Anh                          Tiếng Việt

* Grandfather:    Ông nội (paternal grandfather), Ông ngoại (maternal grandfather).

* Grandmother: Bà nội (paternal grandmother), Bà ngoại ( maternal grandmother).

* Father:               Cha, Bố, Ba, Thầy, Cậu, Chú, Tía (father).

* Mother:              Mẹ, Me, Má, U, Bu (mother).

* Uncle:                 Bác (Father’s elder brother), Chú (Father’s younger brother), Cậu

(mother’s brother), Dượng (husband of mother/father’s sister).

* Aunt:                   Cô, O (father’s sister), Dì, Già (mother’s sister), Bác gái (wife of

father’s elder brother), Thím (wife of father’s younger brother).

* Brother:             Anh (elder brother), Em (younger brother).

* Sister:                 Chị (elder sister), Em (younger sister).

………….

Tùy theo mối liên hệ mà gọi và xưng hô khác nhau (không dùng YOU hoặc I như trong tiếng Anh).Khi xưng hô với Ông Bà Nội/Ngoại thì xưng là cháu, xưng hô với Cha Mẹ thì xưng là con, với Anh Chị thì xưng là em, với Em thì xưng là anh/chị, với Bác, Cô, Dì, Cậu, Mợ, Dượng, Thím thì xưng là cháu.

Hoặc đối với bên ngoài, với người lớn tuổi hơn (ngang hàng với cha mẹ, ông bà, cô bác..) thì xưng là cháu, với người ngang hàng anh chị thì xưng là em, hoặc với người trẻ tuổi hơn thì xưng là tôi/anh/chị.

Không phải người Việt bày ra cách xưng hô rắc rối, mà ngôn ngữ Việt Nam nói lên dân tộc tính của người Việt Nam là thương yêu và kính trọng mọi người, cho nên người Việt không những xưng hô bằng những từ thân thương từ trong gia đình mà ngay cả người không quen ngoài xã hội: Chú, Bác, Cô, Dì, Anh, Chị, Em..

IV. Kết luận

 Những nét đặc sắc trong văn hóa Việt Nam  không phải chỉ có bấy nhiêu. Trên đây là vài điểm căn bản cần khơi lại để giúp các bạn trẻ am hiểu về tinh hoa của nền văn hóa nước mình. Đọc lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư sẽ giúp cho phụ huynh nhớ lại những hình bóng cũ, những kỷ niệm thuở ấu thơ, qua đó có dịp để tâm sự chuyện trò với con em và nhắc nhở con em những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc.Thật vậy, “ nếu ngôn ngữ, hình ảnh, kỷ niệm…không được thường trực khơi dậy, gia đình sẽ mất gốc, quốc gia tan loãng vào xã hội Âu Mỹ…”(5). Việc nước sẽ đảo điên, nếu luân lý đạo đức của Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư bị thay bằng những lối sống dựa trên vật chất, tị hiềm, tranh chấp, vị kỷ và thiếu khoan dung(6).

 Trong hoàn cảnh hiện nay, truyền đạt những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc cho các thế hệ trẻ là điều cần thiết, nhưng bậc làm cha mẹ cần thường xuyên rà xét lại từng giá trị một để giúp cho con em vừa tiếp thu văn hóa truyền thống mà vẫn thích nghi được với nếp sống của xã hội mới.Câu châm ngôn “từ trong cái bếp lò tinh thần của cha ông, chúng ta cần lấy ra không phải nắm tro đã nguội lạnh mà là ngọn lửa đang bốc cháy” (7), đã nói lên nền văn hóa của một dân tộc muốn tồn tại và phát triển phải thích ứng với hoàn cảnh xã hội, năng động, nhạy bén để làm cho nó phong phú hơn.

Ghi chú

1.  Trần văn Chi (2005). Tình nghĩa giáo khoa thư. NXB: Xưa và Nay. Cali (Hoa Kỳ): trang mở đầu. Sau nầy ghi là Trần văn Chi (2005).

2.   Nghiêm đình Vy (1995). Mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống và cuộc sống hiện nay- Một số vấn đề được đặt ra trong giáo dục. Giao tiếp và Phát Triển Văn Hóa : Quy tụ các quan điểm (trang 156).Hà Nội (Việt Nam) 25-28 Tháng 9, 1995. Sau nầy ghi Nghiêm đình Vy (1995).

3.   Nguyễn trực Tâm (năm ?) : Vài suy nghĩ về văn hóa. Tâp họp (trang 2-7).

4.   Trần văn Chi (2005).

5.   Võ văn Ái (1983).Vài lời giới thiệu nhân kỳ tái bản.Quốc Văn Giáo Khoa Thư.
Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc, Đổ Thận (1935). NXB: Quê  Mẹ.
Paris (Pháp), in lại năm1983. Sau nầy ghi là Võ văn Ái (1983).

6.  Võ văn Ái (1983).

7.   Nghiêm đình Vy (1995), trang 157.

Tài liệu tham khảo khác

1.  Lê văn Siêu (1964). Văn minh Việt Nam. NXB:Nam Chi Tùng Thư. Saigòn (Việt
Nam).

2.  Nguyễn văn Bon (2002). Trước đèn xem truyện Lục Vân Tiên-Vài suy nghĩ về
đạo lý dân tộc. Đặc san Nguyễn đình Chiểu -Lê Ngọc Hân .Sydney (Australia),
trang 9-18.

3.  Nguyễn văn Bon (2005). Vài cảm nghĩ sau khi đọcTình Nghĩa  Giáo KhoaThư. Bài
phát biểu trong buổi ra mắt sách Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư của Giáo sư Trần văn Chi, tạiInternational Function, số 42 Canley Vale Road- Canley Vale NSW  (Australia).

4.  Nguyễn văn Bon (2005). Tiếp chuyển những nét đặc sắc trong văn hóa Việt Nam
sang các thế hệ trẻ tại Úc. Bài thuyết trình trong khóa huấn luyện về văn hóa và truyền
thống dành cho các trưởng Hướng Đạo ViệtNam, tạiSydney (Australia), ngày 2/10/2005.

5.   Phạm văn Sơn (1960). Việt-sử toàn thư.Từ thượng-cổ đến hiện-đại. CA (USA) :
NXB: Cơ sở Đại-Nam tái bản (không ghi năm).

6.  Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc, Đổ Thận (1935).
Quốc văn giáo khoa thư. NXB: Quê Mẹ. Paris (Pháp), in lại năm1983.

7.  Trần trọng Kim (1958). Việt Nam sử-lược. Quyển 1. Sai-gòn (Việt-Nam):Bộ Giáo dục: Trung Tâm Học Liệu Xuất bản lần thứ nhứt 1971. NXB: ĐạiNam. CA (USA) tái bản
(không ghi năm).