ĐỌC VUI VÀ SUY NGHĨ

Cổ vũ lòng yêu thích các trò chơi hữu ích cho sự luyện tập trí óc trong cộng đồng người Việt

BND058 – Bài cảm niệm Phật Đản 2636

 

Thiện Tường Nguyễn Huy Long

 

Mỗi dân tộc có những huyền sữ của nó để tôn vinh những giá trị truyền thống hào hùng của dân tộc đó. Tôn giáo cũng vậy. Mỗi tôn giáo đều có những huyền thọai hay huyền sữ để ca tụng và trân trọng sự xuất hiện trong ý nghĩa “giáng trần” nhằm mục đích cứu khổ chúng sinh của vị giáo chủ của họ. Hôm nay ngày Vesak năm 2012 Tây lịch, Phật đản 2636, chúng ta hãy nghe một huyền thoại dễ thương của Tây Tạng nói về sự đản sanh của Đức Phật:

Huyền thoại Tây Tạng kể rằng hoàng hậu Maya nằm mộng thấy mình đi dạo quanh hồ nước rất đẹp. Thấy nước trong vắt, bà bèn xuống hồ tắm. Tắm xong bà lên bờ ngồi nghỉ thì thấy từ trên đỉnh núi cao có một con voi trắng sáu ngà xông đến đâm vào hông khiến bà tỉnh dậy. Bà kể chuyện nầy cho các nhà chiêm tinh ai cũng đoán rằng bà sẽ hạ sinh một hoàng tử, một bậc thánh nhân hiếm có trong lịch sử nhân loại. Người Tây Tạng tin rằng cái hồ trong mộng của hoàng hậu Maya chính là hồ Manasarova  và đỉnh núi nơi voi trắng xuất hiện là đỉnh Kailas, trung tâm tập trung những nguồn thần lực của rặng Tuyết Sơn (Hymalayas), nơi xuất phát hai nền minh triết cao cả của Châu Á: Trung Hoa và Ân Độ.

Về mặt địa lý chúng ta biết rằng tuyết từ đỉnh Kailas chảy vào hồ Manasarova, rồi từ đó theo những con rạch nhỏ uốn quanh Tuyết Sơn 7 lần , sau cùng tích tụ lại thành năm dòng sông lớn. Bốn dòng sông chảy vào Ấn độ, dòng sông thứ năm có tên là Mekong, hạ nguồn của nó trước khi trở về biển cả đã chảy qua miền Tây Nam Việt Nam với cái tên rất quen thuộc: sông Cửu Long.

Đối với những Phật tử chào đời ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, trong những hạt gạo nuôi chúng ta khôn lớn từ những giọt nước mang đầy phù sa của dòng Cửu Long, có ai trong chúng ta biết đâu tổ tiên của những giọt nước nầy hơn 2600 năm trước đã từng chứng kiến sự đản sanh của một đấng Toàn Giác trong huyền thoại Tây Tạng dễ thương nầy.

Bên cạnh yếu tố huyền thoại, nhìn lại một đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lịch sử, chúng ta thấy sự cao cả của ngài là không sử dụng tuệ giác siêu phàm gây dựng tín đồ theo phương cách của một nhà tiên tri. Nhà tiên tri là một người hướng ngoại quá nhiệt tình, tâm trí bị ám ảnh bởi kinh nghiệm thần linh nên cố thuyết phục người đồng loại tuân lệnh Thượng Ðế, và tìm cách cải tạo thế giới theo ý Thượng Ðế mặc khải của nhà tiên tri. Vị ấy tạo được số tín đồ bằng những lời hứa hẹn hạnh phúc và đe dọa trừng phạt đọa đày theo nguyên tắc “Cây gậy và củ cà rốt”, và vì không tránh khỏi tranh chấp ở đời, nên khi vị tiên tri gặp xung đột với những kẻ theo truyền thống cũ, thì thông thường phải chịu mạng vong do bạo lực.

Tuệ giác của Phật khởi đầu từ quan điểm giải thoát khổ đau không thể được chứng đắc ở ngoại giới hay qua sự can thiệp của một vị thần linh nào, mà nó chỉ có thể tìm thấy ở nội tâm – qua sự thâm nhập vào bên trong của mỗi người.

Bậc hiền trí như vậy sống hòa hợp với thế giới. Thái độ căn bản của vị ấy là thái độ thanh thản, buông xả nội tâm, an nhiên tự tại. Kinh nghiệm Giác Ngộ của ngài mang hình thức một sự đột phá trong tri kiến, chứ không phải sự hòa nhập mặc khải vào cái huyền bí. Và chính tuệ giác siêu phàm ấy đã khiến ngài không bị nhiễm ô giữa thế giới hiện tượng luôn biến chuyển.  Điều nầy đã được đức Phật nói đến:

 “Này các Tỳ kheo, Như Lai đã liễu ngộ nguồn gốc của khổ đau và đã giải thoát khỏi thế giới khổ đau. Như Lai đã liễu ngộ sự đoạn tận khổ đau và đã tự mình chứng đắc sự đoạn tận ấy. Như Lai đã liễu ngộ và thuyết giảng con đường đưa đến sự đoạn tận khổ đau. Do tri kiến giải thoát bất cứ những thứ gì trong thế giới từng được thấy, nghe, cảm nhận, thức tri, chứng đắc, tầm cầu, suy tư, tất cả những thứ ấy đều được Như Lai liễu ngộ. Giống như một hoa sen xanh hay trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước nhưng không bị nước làm ô nhiễm. Cũng vậy, Như Lai đã sinh trưởng trong đời, đã vươn lên khỏi đời và an trú không bị đời làm nhiễm ô”.  

Lẽ dỉ nhiên ngài chống đối các tư tưởng tà kiến (như việc đền tội thần linh bằng những con vật tế thần, việc rửa sạch tội lỗi bằng cách tắm trên sông Hằng ở Varanasi v…v…) nhưng không phải trên cương vị một nhà tiên tri đe dọa hình phạt thích đáng, mà là một bậc hiền nhân với tâm bình đẳng giảng giải và gợi ý chứ không cố tình bắt buộc người khác chấp nhận giáo lý của ngài. Tính hợp lý của tư tưởng ngài và vẻ kỳ diệu của nhân cách ngài là tất cả những gì ngài đã thuyết phục được công luận. Và vì thế trong suốt 45 năm giáo hóa không ngưng nghỉ của ngài, mặc dầu như những thánh nhân khác thỉnh thoảng cũng có những chông gai trở ngại, nhưng con đường ngài đi là cuộc hành trình giáo hóa chúng sinh với lòng đại bi và không bao giờ mệt mỏi của một vị Toàn Giác, ngay cả trước khi ngài nhập diệt tại Kushinagar (Câu Thi Na).

Cũng như mọi năm, cảm niệm về ngày Vesak là một kinh nghiệm tâm linh đầy cảm hoài về bậc Đại giác với câu nói cách đây hơn 2600 năm. Một câu nói vừa khiêm tốn, vừa rất gần gủi với chúng sanh, nhưng chúng sanh không dễ gì thực chứng:  

“Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành ”;

 “Có Niết-bàn, có con đường đưa đến Niết-bàn và có ta là người chỉ đường. Nhưng trong các người được ta thuyết giảng chỉ một số chứng đắc cứu cánh, một số khác thì không. Ta biết làm gì được? Ta chỉ là người chỉ đường. Những ai muốn đi trên con đường đó phải tự mình thắp ngọn đuốc trí tuệ mà đi.”

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thiện Tường Nguyễn Huy Long.

Leave a comment