BND146 – Một buổi sáng ở Đại học Khoa học Tự nhiên
Trong sưu tập nầy, có các bài:
Một buổi sáng ở Đại học Khoa học Tự nhiên – GS Nguyễn Văn Tuấn
Sự hy sinh của chiếc lá – Cố GS. Mai Trần Ngọc Tiếng – Thích Minh Liên
Y đức: cười buồn – GS Nguyễn Văn Tuấn
* * *
Một buổi sáng ở Đại học Khoa học Tự nhiên
GS Nguyễn Văn Tuấn
Sáng hôm 21/1/2010 tôi có vinh hạnh ghé qua trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), tức là trường Đại học Khoa học cũ (trước 1975). Nhờ một anh bạn giảng viên trong trường “mai mối” tôi giảng một bài ngắn (chỉ 2 tiếng) cho gần chục bạn giảng viên trẻ trong khoa sinh học. Lâu lắm rồi, tôi mới có dịp vào khuôn viên trường này, nên đi đâu cũng nhìn chằm chằm cứ như là Hai Lúa mới lên thành thị. Những cây cổ thụ vẫn còn đó, nhưng hình như số cây ít hơn so với trước đây. Tòa nhà chính vẫn còn đó, dù có vài thay đổi nhỏ và tường có vẻ rêu phong, hành lang thì hình như cũ kĩ hơn. Cũng có một vài tòa nhà được xây mới (hay tương đối mới) nhưng rất chấp vá, không hài hòa trong cái khung cảnh chung của các tòa nhà cũ. Những tòa nhà từ thời Tây còn lại đã bị xuống cấp thê thảm. Bậc thang đi lên khoa sinh học trông thật là dơ bẩn, tối tăm, chật hẹp. Đứng trên cao nhìn xuống khuôn viên trường trông rất lô nhô, lổm chổm, và nhếch nhác. Tôi cảm thấy ngậm ngùi cho cái trường một thời danh tiếng trong vùng Đông Nam Á này.
Trước khi giảng bài, tôi lang thang trong thư viện nhỏ của khoa sinh và phát hiện rằng cái tủ sách nhỏ này chứa nhiều tập san rất quí trên thế giới. Tủ sách cũ kĩ được để ngoài hành lang này có những số báo của tập san Nature từ năm 1910, một số xuất bản trong thập niên từ 1950-1970. Ngoài ra, còn có một số tập san nổi tiếng khác về sinh học và môi trường học nữa. Tôi có nói với các bạn trong khoa rằng đây là những tài liệu cực kì quí hiếm mà ngay cả đại học New South Wales của tôi cũng không có. Tôi rất sợ là mấy tập san này sẽ tiêu tan nay mai, vì với thời tiết mưa nắng khắc nghiệt và tủ sách để ngoài hành lang như thế không biết mấy tài liệu này có thể “sống” bao lâu nữa. Không biết các bạn ấy có quan tâm đến sự quan tâm của tôi.
Ngày xửa ngày xưa mà ĐH Khoa học Sài Gòn đã có những tập san số 1 trên thế giới như thế. Còn ngày nay, ngay cả các đại học lớn nhất của VN vẫn không có đến một tập san khoa học hàng đầu trên thế giới. Thử vào thư viện Đại học Y Dược chúng ta sẽ thấy chẳng có tập san khoa học nào mới cả. Chẳng trách tại sao nghiên cứu sinh Việt Nam ngày nay khi viết đề cương nghiên cứu chỉ dựa vào những tài liệu khoa học thời 1970s. Còn những bài báo khoa học công bố trên các tập san ở VN thì thành thật mà nói là đại đa số chẳng có giá trị khoa học gì cả.
Ngoài ra, tôi còn có dịp đọc qua những kỷ yếu của ĐH Khoa học Sài Gòn thời thập niên 1950-1970. Ngạc nhiên thay, những kỷ yếu này được bảo quản khá tốt, trông cứ như là những tập san mới in cách đây vài năm. Mỗi kỷ yếu dày khoảng 500 trang, bìa màu xanh, với rất nhiều bài báo khoa học viết bằng tiếng Pháp, nhưng có phần abstract bằng tiếng Anh (mà không bằng tiếng Việt). Những bài báo này được viết theo cấu trúc một bài báo khoa học hiện nay, và chất lượng theo tôi là không thua gì những bài báo trên các tập san chuyên môn nước ngoài. Có những bài mà tác giả thời đó chưa có phương tiện chụp ảnh, nên phải minh họa bằng tay với những đường vẽ hết sức sắc sảo.
Đọc qua những bài báo từ thập niên 1950-1970 này tôi quả thật sự thán phục và kính trọng các bậc đàn anh, các bậc “tiền bối” đã xây dựng nên một nền khoa học nghiêm chỉnh cho miền Nam. Đối chiều những nghiên cứu trước đây với những “nghiên cứu” ngày nay, tôi thấy có một sự khác biệt một trời một vực. Ngày xưa các bậc đàn anh làm nghiên cứu cẩn thận, còn ngày nay thế hệ đàn em làm nghiên cứu kiểu bát nháo. Có lẽ chính vì thế mà anh bạn tôi cho biết khi cần những dữ liệu tham khảo về môi sinh, về thực vật, người ta vẫn dựa vào những cuốn sách và nghiên cứu của những người đi trước (như của Gs Phạm Hoàng Hộ chẳng hạn), chứ không ai dám dựa vào những nghiên cứu thời nay vì dữ liệu không đáng tin cậy.
Đọc qua những kĩ yếu của ĐH Khoa học Sài Gòn trước năm 1975, tôi càng thấm hiểu tại sao miền Nam Việt Nam thời thập niên 1960s đã có một nền giáo dục đại học tốt, hay ít ra là tốt hơn so với các nước trong vùng như Thái Lan mà ngày nay chúng ta đang lẹt đẹt chạy theo sau họ.
Vì sao chỉ có vài chục năm mà giáo dục miền Nam Việt Nam chuyển từ vị thế đáng kính trong vùng sang vị thế thấp hèn như hiện nay. Những chính sách sai lầm và duy ý chí? Những chính sách “hồng hơn chuyên”? Những thay đổi về giá trị đạo lí và đánh tráo khái niệm trung thực khoa học với mục tiêu chính trị? Có lẽ tất cả những điều trên đều có thể giải thích cho sự suy sụp của nền giáo dục trước 1975. Có lẽ các bạn cho rằng tôi “hoài cổ” nhưng nếu có dịp, các bạn thử vào thư viện ĐH Khoa học Tự nhiên để đọc lại những kĩ yếu khoa học thời trước 1975 thì các bạn sẽ thông cảm cho cái giận của tôi.
Nhưng chúng ta cần nhìn về tương lai, chứ chẳng lẽ cứ ôm “quá khứ vàng son” để than thân trách phận. Do đó, trong bài giảng, tôi trình bày tình hình nghiên cứu khoa học ở nước ta, qua những ấn phẩm khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế, so sánh giữa ta và các nước trong vùng, đặc biệt là Thái Lan để thấy chúng ta đang ở đâu trên thế giới này. Tôi nhấn mạnh đến những biện pháp nhằm nâng cao sự có mặt của khoa học VN trên trường quốc tế và có thể cạnh tranh với các nước láng giềng. Những biện pháp này tập trung vào vấn đề phương pháp nghiên cứu, kĩ năng thiết kế những nghiên cứu thực nghiệm, và giới thiệu một số phương pháp thống kê hiện đại có thể ứng dụng trong phân tích kết quả nghiên cứu ra sao. Thấy các bạn trẻ quan tâm, đặt câu hỏi thiết thực về thiết kế chương trình đào tạo làm tôi rất muốn làm cái gì đó để giúp các bạn này. Tuy nhiên, mình chỉ là một cá nhân và chuyện này cũng thuộc loại “nghề tay trái” thì làm sao giúp mọi người được, nên phải nghĩ đến chuyện đào tạo có hệ thống, hay “train the trainers” (huấn luyện người huấn luyện) thì mới mong góp phần nhỏ nào đó để nâng cao khoa học mình lên một tầm cao hơn.
Điều làm tôi – nói theo ngôn ngữ ngày nay – “bức xúc” nhất là chúng ta đã thua Thái Lan về khoa học và công nghệ. Thua khá xa. Nhưng chúng ta vẫn có cơ hội để đuổi kịp và thậm chí qua mặt họ dễ dàng, nếu chúng ta có thể huy động tiềm năng của giới trẻ và sự hợp tác của đồng nghiệp Việt kiều. Điều này chỉ xảy ra với 2 điều kiện chính: đầu tư cho nghiên cứu khoa học và có chính sách cởi mở với Việt kiều. Không thể nào làm nghiên cứu mà không có tiền, và cũng không thể nào kêu gọi nhà khoa học làm nghiên cứu trong khi đồng lương còn chưa đủ sống hay sống chật vật. Do đó, cần phải cải cách chế độ lương bổng sao cho một giảng viên hay nhà khoa học có thể sống với đồng lương của mình mà không phải “chấm mút” ở ngoài. Phải có chế độ thưởng cho những người làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh và có kết quả, và có hình phạt những người làm khoa học dỏm hay phí tiền của Nhà nước.
Có lẽ điều quan trọng nhất là cải tiến hệ thống phân phối tài trợ cho nghiên cứu. Hiện nay, nước ta chỉ đầu tư khoảng 200 triệu USD cho khoa học, mà phần lớn chỉ là xây dựng cơ sở vật chất, chứ kinh phí thật sự cho nghiên cứu khoa học thì chẳng bao nhiêu. Ấy thế mà mỗi năm Bộ KHCN phải trả lại cho ngân sách Nhà nước đến 20-30 triệu USD. Điều này chứng tỏ rằng hệ thống phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học có vấn đề. Vấn đề ở đây, theo cái nhìn của tôi, là cách chọn các công trình xứng đáng và công bằng, cách đánh giá một đề tài nghiên cứu, và cách quản lí một dự án khoa học. Tôi biết rằng Bộ KHCN cũng thấy được và đang cố gắng giải quyết các vấn đề này, nhưng cho đến nay thì hình như họ vẫn bị chi phối bởi những “cây đa cây đề” và cải cách vẫn còn đầy khó khăn.
Nhà nước thì lúc nào cũng nói đến chuyện mời các chuyên gia người Việt ở nước ngoài về Việt Nam giảng dạy và nghiên cứu, nhưng đó chỉ là lời nói cho vui thôi, chứ tôi thấy trong thực tế thì nhiêu khê hơn nhiều. Trong khi phần lớn lãnh đạo đại học rất muốn có sự hợp tác của các chuyên gia người Việt ở nước ngoài, thì vẫn có một số lãnh đạo đại học rất “sợ” Việt kiều, không dám dính dáng đến họ, không dám mời họ đến giảng dạy có lẽ vì họ nghĩ thành phần này bất lương hay đáng nghi ngờ. Nói gì thì nói, giữa lời nói và thực tế vẫn còn một khoảng cách rất xa.
Một buổi sáng ở ĐH Khoa học Tự nhiên làm tôi lan man suy nghĩ về những chuyện quá khứ và tương lai. Tôi chợt nhận ra rằng thành quả khoa học của quá khứ, hiện tại và tương lai của trường này giống như một đường cong parabol. Trường này đã từng có một quá khứ khoa học đẹp, nhưng hiện tại thì nó đang ở điểm thấp nhất của đường cong. Hi vọng rằng tương lai nó (thành quả khoa học của trường) sẽ nhanh chóng tăng lên cái đỉnh để lấy lại danh dự cho trường và cho cả nước vậy. Chỉ biết hi vọng vậy.
Nguyễn Văn Tuấn
TB: Hôm tôi đến trường cũng là hôm Giáo sư Mai Trần Ngọc Tiếng từ trần. Giáo sư Ngọc Tiếng là Khoa trưởng Đại học Khoa học Sài Gòn trước 1975. Bà tên thật là Dương Thị Mai, sinh ngày 12-10-1917 tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Bà tốt nghiệp cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne ở Pháp, về nước làm việc tại ĐH Khoa học Sài Gòn, lấy bằng cao học tức thạc sĩ ngày nay năm 1957. Năm 1962 bà tốt nghiệp tiến sĩ sinh học tại ĐH Purdue (Mĩ). Gs Ngọc Tiếng là một chuyên gia về môi sinh và thực vật ở Việt Nam, và có thời gian dài làm nghiên cứu với Gs Phạm Hoàng Hộ tại ĐH Khoa học Sài Gòn.
* * *
Sau đây là bài viết về Gs Ngọc Tiếng:
Cố GS. Mai Trần Ngọc Tiếng – Sự hy sinh của chiếc lá
Thích Minh Liên
Bạn nghĩ gì về chiếc lá, một chiếc lá màu xanh dễ thương vừa mới đâm chồi hay một chiếc lá vàng úa sắp lìa cành?
Tôi muốn chia sẻ với bạn cái suy nghĩ của mình về sự sinh sôi hay sự tàn hoại. Một chiếc lá xanh dĩ nhiên là sự đóng góp màu xanh cho cuộc đời, còn một chiếc lá vàng úa? Có phải chăng là sự tạm biệt, không muốn góp mặt mình vào cộng đồng? Sự thật lại khác quá, chiếc lá vàng khô là sự hy sinh tuyệt vời đấy bạn ạ! Có lạ hay chăng?
Bạn có biết: Cây xanh đã tự tổng hợp chất để tự nuôi thân mình và cung cấp thức ăn cho mọi loài khác. Trong khi đó, con người có thể tổng hợp được chất này, chất nọ nhưng lại không tự tổng hợp chất nào để nuôi mình. Sở dĩ cây xanh có thể thực hiện điều kỳ diệu trên là vì lá cây có màu xanh khi môi trường khô hạn. Nhằm ngăn chặn sự thoát hơi nước và sự héo tàn vĩnh viễn của cây, lá vàng và tự rụng, lá trả lại cho thân cây tất cả những gì đã có. Và những chiếc lá khô ấy chỉ còn giữ lại cho mình chất khoáng mà thôi.
Tôi mới biết điều này qua tiết học Môi Sinh của Giáo sư Mai Trần Ngọc Tiếng và tôi muốn nói điều này với tất cả mọi người. Giáo sư nói đó là sự hy sinh tuyệt vời, suốt đời cô không thể sánh nổi chiếc lá bé bỏng kia. Tôi lại thầm nghĩ: Cô đã gần 90 tuổi, có thể nói, trọn đời cô đã hy sinh cho biết bao thế hệ học trò, vẫn thấy chưa đủ. Từ một chiếc lá xanh tràn trề nhựa sống, chiếc lá ấy dần dần thay màu để thực hiện sự hy sinh. Cũng như cô đã trao truyền cho học trò bao kiến thức, dáng người cô ngày càng gầy đi, học trò chúng tôi càng ngày càng được phát triển về thể chất cũng như kiến thức khoa học và đời sống.
Giờ đây, chiếc lá màu xanh hay chiếc lá màu vàng, tất cả đều là sự cống hiến, hy sinh vô bờ đối với thân cây. Lá phải úa tàn lìa cành vào mùa thu để đến mùa xuân cây mới kết nụ ra hoa. Người thầy dù còn xuân xanh hay mái đầu điểm bạc, thầy vẫn là hiện thân của tình thương và trí huệ, và hơn thế nữa là sự hy sinh.
* * *
Y đức: cười buồn
Thấy trên không gian blog của bài này của một người quen. Đọc thấm thía quá! Vậy xin bạn cho tôi copy về đây làm tư liệu nhé. Khi nào xong chuyện “cơm áo gạo tiền” tôi sẽ quay lại bàn tiếp chủ đề này.
Một người bạn tôi đang làm việc tại một bệnh viện lớn ở TPHCM, mới đi công tác nước ngoài về, và chị kể lại vài câu chuyện mà chị nghĩ sẽ là động cơ để làm mới dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện của chị. Trong thời gian ngắn ở nước ngoài, thay vì đi shopping, chị bỏ thì giờ ghé qua thăm các trường đại học và bệnh viện, được mời đi “grand round” và xem cách đồng nghiệp nước ngoài tiếp xúc với bệnh nhân. Tôi hỏi ấn tượng của chị sau khi thăm và xem qua phong cách làm việc ở bên Tây ra sao, chị nói rằng các bác sĩ ở đây rất lịch sự với bệnh nhân, nói năng thân mật và nhỏ nhẹ với bệnh nhân, không bao giờ ra lệnh hay tỏ ra là “bề trên” của bệnh nhân. Cho dù có bận cách mấy, bác sĩ vẫn phải tự mình ra ngoài mời bệnh nhân vào phòng khám. Các y tá cũng rất tận tụy với công việc của mình, chăm sóc bệnh nhân từ tấm trải giường, đèn giường, tạo sự thoải mái, và lúc nào cũng quan tâm sự an toàn của bệnh nhân.
Phong cách chăm sóc vừa kể rất khác với phong cách của giới bác sĩ và y tá ở Việt Nam vốn tự xem mình là người ban phát ân huệ, và từ cái vị trí tưởng tượng đó, họ tự cho mình cái quyền hà hiếp bệnh nhân. Tôi hỏi chị làm sao thay đổi được cái “văn hóa” y khoa ở Việt Nam trong tình hình hiện nay, thì chị cũng thấy đầy trở ngại. Trở ngại thứ nhất là phải thuyết phục được cấp lãnh đạo dám thay đổi văn hóa y khoa. Bệnh viện may mắn có lãnh đạo trẻ và quyết tâm làm, nhưng ngay cả với một lãnh đạo như thế, chưa chắc đã thay đổi được một hệ thống trong khi các thành viên trong hệ thống đó đã quá quen với lề lối cũ. Nhưng trở ngại lớn nhất có lẽ là từ phía giáo dục. Bởi vì cả một hay hai thế hệ đã được đào tạo ra trong môi trường và đạo đức mà người bạn mô tả trong bài dưới đây thì vấn đề không chỉ là một bệnh viện hay một trung tâm mà là chuyện của một quốc gia. Nghĩ đến đây, bạn tôi chợt thở dài…
Nguyễn Văn Tuấn
* * *
http://drnikonian.wordpress.com/2009/05/15/sad-smile/
Báo Tuổi Trẻ, mấy ngày nay khá nóng về cuộc tranh luận chung quanh cái gọi là lương tâm chức nghiệp của giới thầy thuốc ở các bệnh viện công. Khen có, chê cũng kha khá. Lại có một ý kiến của đồng nghiệp HT bị ném đá tơi bời. Nó như thế này:
“Tôi là một BS làm việc ở một bệnh viện công của TP.HCM. Đọc bài “Bác sĩ công và bác sĩ tư” của bạn Hoàng Mai, tôi thấy chạnh lòng vì tôi từng chứng kiến nhiều đồng nghiệp đối xử như vậy với bệnh nhân (tâm trạng của tôi lúc đó cũng rất mâu thuẫn).
Tôi biết cư xử như thế là không đúng, nhưng thực tế có bao nhiêu phần trăm BS thật sự xem công việc ở bệnh viện là quan trọng trong cuộc đời, toàn tâm toàn ý cho công việc? Dù không thể đổ lỗi cho thu nhập, nhưng thật sự chúng tôi đi làm vì cái gì, chỉ vì lương tâm thôi sao, chỉ để được xã hội công nhận là từ mẫu thôi hay sao?
Chúng tôi cũng cần phải sống, con của chúng tôi cũng cần phải ăn, phải học. Mà thử xem Nhà nước trả cho chúng tôi lương tháng được bao nhiêu? Tôi đã học sau đại học mà lương 3 triệu đồng, tiền cơm 500.000 đồng nữa là 3,5 triệu đồng. Rồi bị trừ tiền bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp, công đoàn… thì làm sao tôi có thể sống ở thành phố này?
Tôi cũng không thể trách đồng nghiệp sao nhăn nhó với bệnh nhân vì biết BS ấy đang lo lắng bố mẹ ốm mà không có đủ tiền. Tôi nghĩ cũng khỏi phải bắt chúng tôi học những lớp giao tiếp với bệnh nhân làm gì, chuyện quan trọng đầu tiên là phải trả công cho chúng tôi xứng đáng với trách nhiệm mà chúng tôi đảm đương, và đủ để chúng tôi sống đã.
Không phải lo lắng về tiền bạc quá nhiều như hiện nay thì chúng tôi có thể yên tâm lo cho chuyên môn. Còn như hiện nay thì vấn đề đó sẽ tiếp tục như thế và rất khó để giải quyết bạn ạ. Bạn cứ chờ xem.
…..”
Lời phân trần này làm tôi nhớ lại một câu chuyện cách đây 20 năm, mà tôi là nhân chứng. Hôm đó, tôi đưa cháu vào cấp cứu ở một BV lớn ở TP. Cháu tôi bị tiêu chảy mất nước nặng. Dưới con mắt nhà nghề, tôi biết cháu tôi đang trụy mạch, cần được cấp cứu. Vậy mà chờ mãi, vẫn không thấy động tĩnh gì. Biết thân biết phận, biết câu rừng nào cọp ấy, tôi rón rén gõ cửa phòng trực BS. Đây rồi, một đồng nghiệp rất trẻ, đang cắm cúi trên một cuốn sách dày cộp. Chỉ vừa mới mở miệng bẩm báo về tình trạng mạch nhanh không bắt được, da tím, lạnh… của cháu, tôi nhận được một ánh mắt lạnh như băng, quét từ đầu xuống chân, qua một cặp kính trắng lấp lánh rất trí thức, và một câu nói cũng lạnh tanh: “Có biết học BS là khó lắm không?” (??????)
Không cần bình luận gì thêm về tính chất vô giáo dục và cực kỳ ngạo mạn của câu nói này, mà nên thấy, xã hội chúng ta đang sống, đã sản sinh ra một tầng lớp, tạm gọi là trí thức, không tim, thiếu một căn bản tối thiểu về giáo dục và giao tế xã hội (social etiquette). Không thể đổ lỗi cho đồng lương, cho sự thiếu thốn vật chất để gật gù thông cảm cho sự phi nhân, nhất là sự phi nhân đó xảy ra trong ngành giáo dục và y tế. Nói được một câu “xuất sắc” như đồng nghiệp trẻ năm xưa, chắc không phải vì lương thấp, vì bức xúc mà bật ra (?)
Tôi cười nhạt, khi nghe đồng nghiệp HT than vãn về thu nhập. Giấy trắng mực đen, thì BS công nào cũng nghèo. Trà dư tửu hậu, thì các BS công thường dè bĩu các BS tư là chạy theo đồng tiền, bỏ quên nghiên cứu khoa học (?). Nhưng thực tế, trừ một số BS trẻ vừa chân ướt chân ráo vào nghề, các BS công hiện tại đang giàu, rất giàu. Cứ nhìn các dãy xe hơi đời mới trong sân các BV lớn thì rõ.
Chẳng nên đổ tại tiền! Mà không lẽ vì tiền, tôi có quyền hạ thấp phẩm giá, sự cao quí của nghề nghiệp, bằng những hành vi cục súc (xin lỗi, tôi không tìm được từ nào văn hoa hơn), mà các đồng nghiệp của tôi cư xử với bệnh nhân, và cả với nhau (?) Làm thầy thuốc, phàm cứ ít tiền thì hỗn xược với người bệnh (?). Phải đợi đến lúc nhiều tiền mới lễ độ, vồn vã, thì có khác chi bà phở chưởi học nghề chiều khách?
Tuy nhiên, con người là sản phẩm của xã hội. Nói đi thì cũng phải nói lại, cho nó công bằng. Hệ thống y tế của chúng ta là cha đẻ của một tầng lớp học cao hiểu rộng, hợm hĩnh, kiêu căng và… dùi đục như thế.
Còn nhớ, khi mới ra trường, lọ mọ đến Sở Y tế một tỉnh nọ có việc, tôi phải bỏ dép, đi chân không vào phòng ông Giám đốc. Chẳng khác gì một chị Dậu với nón mê, váy đụp khúm núm chốn công quyền, mặc dù tôi đi bán tôi (xin việc), không phải đi bán chó, thưa các bạn! Tại sao, một BS trẻ như tôi hồi ấy, không được quyền có một việc làm đúng sở học, một cách đường hoàng, tự tin, mà phải hèn hạ đến thế?
Điều ấy, nó tổn hại cho phẩm giá!
Còn nhớ, chúng tôi, hơn 30 BS nam, phải nhường WC cho các BS nữ, nên phải vừa tiểu tiện, vừa rửa mặt trong một cái lavabo suốt 10 năm trời ở một BV lớn nhất nước. Chuyện ấy, giờ còn hay không, tôi không biết! Nhưng, nó cũng làm tổn hại phẩm giá. Nó làm con người ta, mất dần dà đi cái ý thức về lịch sự, riêng tư, nhân cách…, từ những điều nhỏ nhặt như vậy!
Còn nhớ, chúng tôi phải đi vận động, hay nói trắng là đi ép buộc, bệnh nhân chúng tôi phải mua, phải ăn những suất cơm tồi tệ, nuốt không trôi của BV. Chỉ vì ông giám đốc khả kính một thời của BV đó, có mối quan hệ rất đáng ngờ với công ty cung cấp khẩu phần bệnh viện. “Không ăn ư, cứ cho ra viện. Vì ăn cũng là một cách điều trị! Không ăn, là chống đối chế độ điều trị, cho ra viện”. Ghê chưa?
Còn nhớ, cũng chính ông GĐ đó, ép buộc và ra chỉ tiêu chúng tôi phải kê toa một loại thuốc cực kỳ nhảm nhí, chỉ vì ông ta và gia đình vừa mới được mời đi du hí châu Âu về. Ai mời? Câu trả lời là một cái cười nụ. Mà cũng chính ông ấy, lại nói về y đức rất dõng dạc, rất tự tin, ai nghe cũng phải giật mình kính phục.
Còn nhớ, khi mới ra trường, lòng còn nhiều mộng ước, gặp ngay gã y tá chuyên tu, phó phòng tổ chức. Béo tốt, vênh váo (tuy còn rất trẻ): “ĐM, BS trẻ chúng mày ngu bỏ mẹ. Khoa ấy có đ. gì để ăn mà cứ xin vào đấy?” Sau đó là những chầu nhậu, những tăng 2, tăng 3… để được việc. Về nhà, nhục nhã, uất ức, nhìn con thơ đang ngủ mà phải cắn răng lại để khỏi trào nước mắt. Không chìu lòn chúng nó, bố tìm đâu ra việc để kiếm tiền mua sữa cho con. Tội nghiệp con, và tội nghiệp cả bố nữa, con trai ạ!
Một gã thất phu như thế, lại được trọng dụng, cất nhắc nắm sinh mệnh khoa học (và cả sinh mệnh chính trị) của hơn ngàn BS, bạn có tin nổi không?
vân vân và vân vân…
Thế đấy, người thầy thuốc VN tội nghiệp, sau bao nhiêu năm tháng sống trong một hệ thống kém văn hóa, hỗn xược như thế, đã bị vùi dập, thui chột những tố chất bắt buộc phải có của người thầy thuốc: sự lễ độ, lòng thấu hiểu, phong cách thanh lịch văn minh… mà ta vẫn thường thấy trong các phim Âu Mỹ. Nó là sự thật, không phải là phim giả tưởng đâu, thưa các bạn. Nó là kết quả của một xã hội tôn trọng người đọc sách, coi thầy thuốc là tầng lớp quí tộc, ưu tú. Và huấn luyện, đòi hỏi người thầy thuốc phải xứng đáng với những phẩm chất đó. Dĩ nhiên, không chỉ bằng những lời hô hào suông, bằng các loại giấy khen thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, mà bằng nhiều cách khác. Không nói ra thì ai cũng biết những cách đó là gì!
Thiếu căn bản giáo dục cá nhân, gia đình. Thiếu một nền tảng văn hóa tối thiếu từ xã hội, cơ quan (ở đây là BV), thì dù một số không nhỏ BS dù đã rất giàu, họ vẫn không thể hành xử ‘xứng với kỳ đức’ mà nghề nghiệp và xã hội mong đợi. Chung qui, thì cũng nên nghĩ ngợi về cách chúng ta đào tạo trí thức. Và cách chúng ta đối đãi (không phải là đãi ngộ) với người trí thức!
Chưa một lần, tôi dám hô hào y đức. Vì nó thâm sâu chẳng khác gì tôn giáo. Nhìn vào y đức, để thấy thẹn với lòng, vì không bao giờ vươn đến được cái nghĩa lý cao quí của hai từ đó. Nhớ lại y đức, để răn mình, chứ chẳng dám răn ai như các quan chức trơn lông đỏ da vẫn thường rao giảng. Y đức cao quí (nhưng không cao xa), nên xin các quan chức, thôi hô hào, thôi khuấy động các phong trào thi đua chấn hưng y đức để tự đánh bóng bản thân. Y đức nào tồn tại được, theo cái cách chúng ta đang vận hành guồng máy y tế như bây giờ? Bộ máy y tế ấy, đã phản y đức về cơ bản, khi phân loại bằng giấy trắng mực đen, các quyền lợi và hệ thống khám chữa bệnh của nó theo chức vụ, cấp bậc, mức lương. Lẽ nào, một người dân đen, không được quyền chăm sóc ngang bằng một cán bộ cao cấp? Tôi may mắn, tự thoát ra được khỏi hệ thống ấy, cũng hơn 10 năm có lẻ. Nhưng thỉnh thoảng, nhớ lại một thời cay đắng ấy, không khỏi ngậm ngùi mà lẩy một câu Kiều: “chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa”.
Lại thêm một lý do, để tôi mong ước con trai tôi về, sau khi ăn học thành tài ở xứ người. Chẳng để trả thù ai, mà làm gì được cho dân mình bớt khổ thì làm!
Về mà thay thế, về mà chấn hưng lại cái hệ thống y tế nhàu nát mà bố phải chịu đựng ngần ấy năm để nuôi con, con ạ !